Tác giả - tác phẩm

Chỉ nước mắt không bao giờ quên mặn

Đặng Huy Giang 26/04/2023 05:45

Sau hơn 50 năm theo đuổi thơ ca, nhà thơ Nguyễn Việt Bắc đã ra mắt độc giả nhiều tập thơ như: “Dội hoa lên trăng”, “Gặt chữ”, “Người ta và tôi”, “Bom chữ ngũ hành”, “Một mình trăng lên”, “Buồn không đóng cửa”… Những tưởng người kiến trúc sư ấy đã dừng lại và không “dây dưa” với thơ nữa nhưng gần đây, ông tiếp tục ra mắt ấn phẩm “Nguyễn Việt Bắc - Thơ và trái tim bạn bè”.

Trước hết, có thể nói rằng thơ của Nguyễn Việt Bắc thiên về trực giác. Dường như cả tâm lẫn trí không đè nặng lên ông và không ảnh hưởng gì đến ông. Thơ ông có vẻ đẹp tự nhiên và thanh thoát. Nhiều khi cái sự bất chợt, hốt nhiên đã trở thành nguồn thơ và trở thành thế mạnh trong ông. Người sở hữu một khả năng bẩm sinh và một bản năng thơ như thế là rất hiếm. Bởi thế, thơ ông hầu như không mang dấu vết của kỹ thuật, dấu vết của nghề. Ông không vướng bận những gì ở ngoài ông. Thơ ào đến ông như những làn gió và ông đón nhận nó, hoà vào nó, rồi cứ thế đưa nó nhập vai rất tự nhiên vào những đứa con tinh thần của mình. Bởi thế, nhiều khi thơ ông chỉ “cảm thấy” được mà không cần “nhận thấy” được. Mà sự “cảm thấy”, bao giờ cũng đem cho người thưởng thức một cảm giác lạ, không cần diễn giải bằng lời. Bởi thế, thơ ông không quá nặng nề với việc “viết từ cái gì” và “viết vì cái gì”, “viết cho ai” và “viết vì ai”. Bởi thế, thơ ông luôn đẹp một cách bâng khuâng, đẹp một cách là lạ. Ấn phẩm “Nguyễn Việt Bắc - Thơ và trái tim bạn bè” chính là nơi hiện rõ chân dung này của ông.

bia-sach-nguyen-viet-bac.jpg

Bài thơ “Sáng tháng Ba” là ví dụ thứ nhất. Vẫn là cây gạo đầy hoa, mưa bụi rất nhiều, người người đội nón ra đồng trong thời điểm tháng Ba ở nông thôn... vậy mà tác giả cảm thấy được cái khác của nắng dưới đất và mây trên trời: “Nắng đồng chỗ đậm chỗ thưa/ Mây bay mơn mởn như chưa lấy chồng”.

“Về làng” là ví dụ thứ hai. Chỉ có một lần về làng, chứng kiến bình minh của làng, thấy đồng lúa chín vàng, gặp những người thân thiết ở làng… vậy mà lúc nửa đêm, tác giả nghe được âm thanh lạ của làng: “Nửa đêm xào xạc/ Lá đa/ Có ai nghe tiếng người già gọi trăng”.

Cảm thấy được: “Mây bay mơn mởn như chưa lấy chồng” và chợt nhận ra: “Có ai nghe tiếng người già gọi trăng”, là hai câu thơ hay, vừa tình tứ vừa ý nhị, tựa như bắt được vậy!

“Ngày nghỉ” là ví dụ thứ ba. Một ngày nghỉ mà mấy phút lại ngó một lần chờ tin nhắn. Vậy mà “Ngày nghỉ dài ra/ Tin nhắn lại rất ngắn” trong khi “Nắng nhạt/ Mưa lây phây”. Không phải tác giả mong tin nhắn mà là mong người. Chính xác ra là mong gặp người qua tin nhắn. Có lẽ chưa ai viết một cách hay như thế về sự đợi chờ qua điện thoại bằng Nguyễn Việt Bắc: “Cứ như người đi trên dây/ Mong mỏi/ Anh như hòn than nướng/ Không khói”.

“Chị tôi” là ví dụ thứ tư. Bài thơ không chỉ đụng đến số phận một con người, mà còn đụng đến cái quẩn quanh của kiếp người. Những câu thơ như thế này không phải dễ viết và không phải ai cũng dễ dàng viết được: “Công danh như gió thoảng qua/ Đời người ngắn ngủi như là chiêm bao/ Mồng tơi vấn vít tường rào/ Có con bươm bướm bay vào thiên thu.../ Đầu thai vào trái mù u/ Nỗi buồn kiếp trước đánh đu kiếp này/ Chị tôi đi trước cái cầy/ Nỗi buồn/ Kiếp trước/ Kiếp này/ Kiếp sau?”

“Chợ làng” là ví dụ thứ năm. Ít ai ra chợ mà tinh ý nhận ra nét chân quê còn lưu giữ lại ở “mớ rau, con cá rơm vàng buộc xâu”, ở “bàn chân cấu nắng, trên đầu nón mê” và phát hiện ra: “Bà ngồi bán quả vườn quê/ Dăm ba quả ớt tái tê cả chiều”. “Tôi” như một người con xa quê đã lâu rồi chợt nhận ra: “Nợ quê, tôi nợ rất nhiều/ Bây giờ thêm nợ cái chiều hôm nay”. Rồi như từ đó mà tác giả thấy nuối tiếc, xót xa vì những gì mà làng đã mất: “Ruộng vườn cứ tướt khỏi tay/ Bữa ăn không ớt mà cay đắng lòng”.

Và bài thơ “Làng vẫn làng mà như đi lạc” là ví dụ thứ sáu. Đây là cảm giác mất mát của một người thấy làng đang bị đô thị hoá. Không còn thấy ao thả cá; không còn thấy bèo tấm, bèo cái; không còn thấy người đi câu, bà già bỏm bẻm nhai trầu, trẻ con nhảy dây, chơi ô ăn quan… mà thấy làng giờ đây: “Gỉ gì gi cái gì cũng có”, kể cả “phố hàng mã”, “ngày ngày với nhiều tấn giấy màu” để tiêu thụ và tiêu huỷ. Cái tái tê cả chiều của người bán ớt và cái cay đắng của người không ăn ớt, xem ra cũng không xa nhau mấy nỗi. Nếu như sinh thời, nhà thơ Thợ Rèn từng viết: “Cả làng là một cục xi măng”, một nhà thơ khác từng viết: “Làng bây giờ không gì là không có/ Những thứ của làng đều từ phố thải ra/ Chỉ có cỏ là không chịu cũ/ Xanh từ thời Thánh Gióng chửa lên ba” thì trong bài thơ này, nhà thơ Nguyễn Việt Bắc viết: “Làng vẫn làng mà như đi lạc”. Xa lạ với chính nơi sinh thành ra mình, nơi chôn nhau cắt rốn đời mình… hỏi có gì buồn hơn, chua xót hơn?

Chưa dừng ở đây, cảm giác mất mát còn kéo dài hơn. Đó là nỗi mất mát về thời gian và mất mát của quá khứ giằng xé. Bài “Chuyện ở một trạm điều dưỡng” - tên một bài thơ giản dị đến nỗi khó giản dị thêm nữa, kể về những cựu thanh niên xung phong luôn nhớ về một thời hoa lửa của họ, trong đó có một người đàn bà thất thập. Gần như trong cơn mê sảng, người ấy vẫn giữ nguyên ký ức: “Tôi vẫn đẹp như tiên/ Và vẫn còn vẹn nguyên” và “Chẳng tiếc gì chỉ tiếc chàng trai trẻ/ Sao cứ đi đi mãi không về”. Cũng trong bài thơ này, mất mát do chiến tranh để lại và bi kịch của chiến tranh vẫn còn đó: “Trong cơn nhớ nhớ, quên quên/ Trong cơn dở cười, dở khóc/ Tôi thấy quá khứ như chưa hề cắt đứt/ Cuộc chiến dằng dai như chưa hề cắt đứt”.

Nguyễn Việt Bắc có nhiều bài thơ viết về tình yêu. Ông có nhiều câu thơ viết về đề tài này khá tài hoa, rất thân phận với nhiều ngẫm ngợi, đau đớn. Có thể dẫn ra như: “Nụ hoa chờ hạt sương đêm/ Còn tôi/ Mơ thấy bóng em thật nhiều/ Người ta thì vội vàng yêu/ Tôi im lặng/ Muốn nói điều lặng im” (Một hai); “Vo tròn một nắm bình minh/ Gỡ ra được mấy sợi tình thế thôi/ Gió men say gió qua môi/ Mà nghiêng ngả cả đất trời núi sông” (Hình như); “Một mình/ Có một mình thôi/ Tôi tan vào với đất trời và em” (Tan); “Yêu em từ lúc tóc xanh/ Mà giờ bạc tóc mình thành nợ nhau/ Em là trầu/ Anh là cau/ Đừng thêm vôi nữa để đau đến giờ” (Nợ tỉnh nợ tình); “Chỉ nước mắt không bao giờ quên mặn/ Khi buồn/ Nhớ em/ Ứa ra” (Quên)...

Viết về cố hương, Nguyễn Việt Bắc có “Thiên thai” và “Luy Lâu” rất đáng nhớ: “Một mình/ Lên đỉnh Thiên Thai/ Đến nơi bỗng thấy/ Thành hai con người/ Một người/ Theo gió rong chơi/ Một người/ Ngồi/ Với bời bời/ Cỏ xanh”; “Luy Lâu thành cũ Luy Lâu/ Ẩn trong phơ phất cỏ lau bên đường/ Tôi về cỏ vẫn ngậm sương/ Con chim kêu tiếng vẫn thương thương là/ Rung rinh rặng ổi khóm hoa/ Tôi bệt xuống cỏ để mà chiêm bao/ Bỗng nhiên gió thổi ào ào/ Hồn người giữ đất bay vào trời xanh/ Ngày qua nhanh, tháng qua nhanh/ Vẫn xanh như cỏ tường thành Luy Lâu”.

Bài “Ta giẫm vào ta” làm tôi ngạc nhiên. Cảm giác tác giả đang sống ở một cảnh giới không ở cõi trần, mà nếu có sống ở cõi trần thì cũng như đang được tiếp nối từ bằng sự chuyển cõi vậy. Bài thơ có bốn câu kết thật chí lý: “Ta có trong ánh sáng bình minh/ Hạt cát li ti kiếp trước/ Ta hiến trọn mình cho cỏ mọc/ Hàng ngày/ Ta có giẫm vào ta?”.
Tôi cũng ngạc nhiên trước “Ta” với: “Bãi cát/ hạt trắng/ hạt vàng/ Thân tôi một hạt/ lang thang/ bến bờ” và “Không cầm được” với: “Nước không cầm được/ Lửa không cầm được/ Tâm hồn không cầm được/ Những cái không cầm được/ Làm người ta sống lâu hơn.”

Hơn ai hết, Nguyễn Việt Bắc luôn coi trọng kiến thức và coi kiến thức là sự giàu có tinh thần. Bởi thế mà trong “Nghèo”, ông hạ bút: “Có ba cái áo mặc/ Tự thấy đã đủ dùng/ Không một cuốn sách mới/ Bỗng túng nghèo vô cùng”. Hơn ai hết, Nguyễn Việt Bắc quan niệm: “Cái gì đến cứ đến” (Cái gì đến cứ đến) và: “Mai sau là hạt cát/ Giờ hãy là bông hoa” (Hoa).

6-cuon-sach-phat-trien-tai-chinh-ca-nha_1836213.jpg

Như thế, ông đã chấp nhận tất cả và thản nhiên sống, ông đã là người hiểu được quy luật của tạo hoá. Cũng như thế, ông đã bình tĩnh sống thật hết mình với hôm nay, với những khoảnh khắc đang diễn ra tức thì. Còn hạt cát (cát bụi) ư? Đấy là chuyện sau này mà ông chẳng phải vội nghĩ đến và bận tâm làm gì.

Bài liên quan
  • Khi âm nhạc rong chơi trên từng trang sách
    “Kể chuyện âm nhạc là hình thức đọc truyện và kết hợp với âm nhạc mang đến những trải nghiệm tuyệt vời cho bé. Vừa hiểu được nội dung câu chuyện, vừa được tương tác với các hoạt động trong sách, đây chính là một cách đọc sách mới mẻ được rất nhiều các bạn nhỏ yêu mến…”
(0) Bình luận
  • “Thời hoa lửa” và hành trình gìn giữ ký ức của nữ nghệ sĩ Thanh niên xung phong Thủ đô
    Ngày 9/5, tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đã diễn ra lễ ra mắt tập tự truyện “Thời hoa lửa” và tập thơ “Ký ức và lòng nhân ái” của nghệ sĩ, nhà thơ Nguyễn Thị Bích Liên.
  • Phát động cuộc thi chuyển thể truyện tranh “Kính vạn hoa”
    Với mong muốn mang đến hình thức thể hiện mới cho bộ truyện “Kính vạn hoa”, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức Cuộc thi chuyển thể tác phẩm văn học “Kính vạn hoa” sang truyện tranh. Cuộc thi được phát động đúng dịp sinh nhật nhà văn Nguyễn Nhật Ánh (7/5).
  • Ra mắt tập truyện "Những gì tôi thấy ở Việt Nam" của nhà văn Ajdar Ibrahimov
    Sáng 5/5, tại Viện Phim Việt Nam (523 Kim Mã, Giảng Võ), diễn ra buổi giới thiệu tập truyện ngắn “Những gì tôi thấy ở Việt Nam” của Ajdar Ibrahimov - đạo diễn, biên kịch, nhà văn nổi bật của Azerbaijan và là một trong những người đặt nền móng cho điện ảnh cách mạng Việt Nam.
  • Tái hiện chân dung phi công Vũ Xuân Thiều và chuyến bay bất tử
    Nhân kỉ niệm 51 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026), Nhà xuất bản Kim Đồng ra mắt bạn đọc ấn phẩm mới “Vũ Xuân Thiều và chuyến bay bất tử”. Cuốn sách nằm trong bộ “Người lính phi công kể chuyện” của Đại tá Nguyễn Công Huy, gồm ba cuốn, tái hiện những câu chuyện lịch sử về Không quân Nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Đêm Hà Nội và những thanh âm của thành phố
    Hà Nội thường được nhớ đến với vẻ đẹp cổ kính của ba mươi sáu phố phường, với những mái ngói rêu phong, hồ nước xanh trong và nhịp sống mang dáng vẻ thanh lịch của người Tràng An. Nhưng khi màn đêm buông xuống, thành phố lại khoác lên mình một diện mạo khác: vừa sâu lắng mà cũng vừa sống động hơn...
  • [Podcast] Tản văn: Hương sen vương vấn sợi trà
    Những ngày còn công tác ở Hà Nội, ông ngoại tôi đã xin được giống sen Hồ Tây về trồng trong đám ruộng lầy cải tạo thành ao, bờ mòn dần hóa thành đầm sen đầu tiên ở bản. Những nhà hàng xóm ngắm bông sen to, đẹp thơm ngát một vùng thì đến xin vài ngó già.
  • Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI thành công tốt đẹp
    Sau 2,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, đổi mới, sáng tạo; Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 diễn ra tại Thủ đô Hà Nội, đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình và Đại hội bế mạc vào sáng 13/5.
  • Hà Nội thúc đẩy mô hình tăng trưởng mới, quyết liệt tháo gỡ các “điểm nghẽn” phát triển
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Thông báo số 413-TB/TU ngày 08/5/2026 thông báo kết luận tại Hội nghị Ban Thường vụ Thành ủy ngày 07/5/2026 về nhiều nội dung quan trọng liên quan đến đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển nhà ở xã hội, khu công nghiệp, logistics và các cơ chế, chính sách trình HĐND Thành phố.
  • Tăng cường đồng thuận xã hội để thúc đẩy Dự án Khu đô thị thể thao Olympic
    Thường trực Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Công văn số 657-CV/TU ngày 13/5/2026 về tăng cường tuyên truyền, vận động thực hiện Dự án Khu đô thị thể thao Olympic. Thành phố yêu cầu đổi mới công tác tuyên truyền theo hướng thiết thực, lấy người dân làm trung tâm; đồng thời tập trung tháo gỡ các khó khăn về quy hoạch, cơ chế, chính sách, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của Nhân dân và thúc đẩy tiến độ triển khai dự án.
Đừng bỏ lỡ
Chỉ nước mắt không bao giờ quên mặn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO