Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Đá ong, hồn quê xứ Đoài

Đào Thị Thu Hiền 11:58 28/05/2026

Mỗi lần lang thang về “miền mây trắng”, đi dọc dải đất từ Quốc Oai, Thạch Thất lên Sơn Tây rồi đến Ba Vì, ấn tượng trong tôi không chỉ có những ngôi đình vững chãi, bề thế; những ngôi chùa cổ kính, rêu phong với những mái ngói, đầu đao uốn lượn như rồng bay, phượng múa mà còn có cả những ngôi nhà, những bức tường rào nhuốm màu thời gian được cất lên từ những viên gạch đá ong xù xì, thô ráp trong sắc màu nâu đỏ (còn gọi là màu vàng thổ) trải qua năm tháng phơi nắng, dầm mưa.

da-ong-xay-nha-trong-cac-ngo-xom-o-duong-lam.jpg
Đá ong xây nhà trong các ngõ xóm ở Đường Lâm

Những viên gạch ấy và cả cái sắc màu ấy nữa, nhìn bề ngoài, ta không thấy có cái nét bay bổng, tráng lệ, hào hoa, rực rỡ, phô trương như các thứ gạch men hay đá hoa cương trong các công trình kiến trúc thời hiện đại. Trái lại, nó hiện ra trong mắt người ta với cái dáng vẻ trầm mặc, thô sơ, mộc mạc cùng với sự nhẫn nại, bển bỉ, dẻo dai như chính cuộc sống còn nhiều gian khó của những con người nơi đây. Bởi thế, lắng nghe từng hơi thở trong mỗi thớ đá hay đắm chìm trong những sắc màu của từng viên gạch, ta sẽ thấy, ẩn sau cái dáng vẻ lặng lẽ và khiêm nhường trên bề mặt của từng viên gạch đá ong, tưởng như khó nhìn kia là những lắng đọng của thời gian; là cả một bầu trời cổ tích của người dân xứ Đoài. Cho nên, đến xứ Đoài, ngắm nhìn mỗi ngôi nhà, mỗi bờ rào… đá ong nâu đỏ, ta không chỉ cảm nhân được những bước đi của thời gian; của nhịp sống mà còn lắng nghe được những câu chuyện về đất và người nơi đây từ ngàn xưa qua từng viên gạch.

Nghề làm gạch đá ong ở xứ Đoài không biết có từ bao giờ, cũng chẳng thấy ai kể rõ về câu chuyện này, nhưng có một điều tôi thấy, ở nơi đây có rất nhiều làng, nhiều nhà, nhiều công trình có tuổi đời hàng trăm năm được làm bằng những viên gạch đá ong, hiện vẫn đang tồn tại. Ở huyện Quốc Oai có làng Yên Thái (thuộc xã Đông Yên nay là xã Phú Cát); huyện Thạch Thất có làng Hương Ngải (nay thuộc xã Tây Phương), các làng ở xã Bình Yên (nay thuộc xã Hoà Lạc); ở thị xã Sơn Tây có làng cổ Đường Lâm (nay thuộc phường Sơn Tây); huyện Ba Vì có làng Cốc (xã Cam Thượng nay thuộc xã Quảng Oai)… Và có rất nhiều các công trình công cộng, tín ngưỡng, tôn giáo, quân sự… có vật liệu đá ong trong các khối kiến trúc như thể các bức tường ở quán Nghinh Hương của làng Hương Ngải; tường đền thờ Tam Phủ ở chùa Thầy; tường và giếng ở đền Và; hơn hai trăm bậc cầu thang dẫn lên chùa và nền móng các toà nhà ở chùa Tây Phương; nghi môn ở đình Tường Phiêu; bờ tường, nền móng, tường nhà ở đình Mông Phụ; những con đường đi ra rặng duối ở lăng Ngô Quyền; mộ và nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh; nhà thờ Trạng Bùng (Phùng Khác Khoan); những căn lều ở chợ Mía; tường thành và chân cột cờ thành cổ Sơn Tây… Gạch đá ong ở xứ Đoài có mặt trong trong rất nhiều công trình kiến trúc của nhà dân và các công trình kiến trúc công cộng; từ giếng nước cho đến tường rào, cổng nhà; từ làm bếp, làm nhà cho đến làm đình, làm chùa; từ làm lăng mộ cho đến xây tường hào, xây thành… Có lẽ sự có mặt của gạch đá ong, của chất liệu đá ong ở miền quê này rộng khắp như thế mà đã tạo nên cái nét cảnh quan đặc trưng khó lẫn với bất cứ làng quê nào khác khiến người ta phải gọi vùng xứ Đoài là miền quê đá ong, vùng văn hóa đá ong.

Có lẽ trên dải đất hình chữ S này không chỉ có ở Hà Nội (xứ Đoài) mới có đá ong, nhiều miền quê khác cũng có đá ong. Nhìn trên bản đồ địa chất, dọc theo chiều dài đất nước, tính từ vùng trung du Phú Thọ cho đến Khánh Hòa nhiều nơi có những vỉa đá ong với lịch sử hàng triệu năm kiến tạo của vỏ trái đất. Tuy nhiên tùy theo địa hình và đới khí hậu khác nhau mà chất lượng đá ong ở mỗi nơi lại có một cấp độ, một giá trị khác nhau. Cái sự khác nhau này tùy thuộc vào hàm lượng kim loại, độ kết dính, sắc màu của đá khi được đưa ra khỏi lòng đất. Cũng theo sự tính toán đó thì vùng địa lý ở phía Tây thủ đô Hà Nội, tức xứ Đoài là nơi được đánh giá có những vỉa đá ong đạt chất lượng tốt nhất. Không biết, người xưa có đo đếm phân tích được các dữ liệu khoa học về đất đá ong như thời nay không nhưng rõ ràng, ở vùng trung tâm của xứ Đoài, làng cổ Đường Lâm còn được biết đến và nổi tiếng là một làng Việt cổ đá ong. Chất liệu đá ong, những viên gạch đá ong, từ thời cổ xưa ấy nay vẫn hiện hữu. Và, từ bao đời đến nay, đá ong cũng đã trở thành một phần quan trọng, không thể vắng mặt trong các những công trình nhà ở, tường rào, giếng nước, bờ ao, đường xá, cầu cống của người dân; những không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng; các công trình tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh… Người ta bảo, ở nhà làm bằng đá ong sẽ thấy mát vào mùa hè và ấm vào mùa đông do cấu trúc xốp, rỗng tự nhiên của đá. Trong viên gạch đá ong có vô số lỗ nhỏ li ti. Những lỗ nhỏ này có tác dụng như một lớp đệm không khí, ngăn cách nhiệt độ cao truyền từ bên ngoài vào trong nhà khi mùa hè đến. Đồng thời cũng do đặc tính hấp thụ nhiệt kém và tỏa nhiệt nhanh nên bức tường đá ong sẽ không bị nóng lên quá mức, nhờ đó mà không khí trong nhà luôn mát mẻ. Hơn nữa, do cấu trúc xốp, rỗng mà viên gạch đá ong có thể hút ẩm khi trời nồm, nhả ẩm khi trời khô, nhờ vậy mà không khí trong nhà luôn có cảm giác thông thoáng, dễ chịu. Và cũng bởi cấu trúc đá ong như thế nên khi mùa đông đến, bức tường đá ong cũng tỏa nhiệt rất chậm cho nên trong ngôi nhà luôn có cảm giác ấm áp hơn rất nhiều. Đặc biệt, cái cấu trúc xốp, rỗng của đá ong khi được đưa xuống lòng đất trong vai trò của chiếc tang giếng (khuôn vòng tròn) thì nó có tác dụng như một nhà máy lọc nước tự nhiên. Nước từ mạch ở trong lòng đất thẩm thấu qua lớp đá ong đi vào trong lòng giếng, tất cả các tạp chất bị gạt lại; làm cho nước giếng ít bị nhiễm khuẩn. Chưa kể, trong đá ong có khá nhiều khoáng chất tự nhiên (can xi, magiê, sắt …). Các khoáng chất này vừa bổ sung chất khoáng cho nước vừa tạo nên sự tinh khiết. Bởi thế nước giếng đá ong xứ Đoài lúc nào cũng trong veo, ngọt ngào, mát lành. Nước giếng đá ong này đun sôi pha trà thì lúc nào cũng ngon vào loại thượng hạng. Nguyên do, nước không lẫn tạp chất nên rất mềm, giúp đánh thức trà rất tốt, làm cho các hợp chất như polyphenols, axit amin và hương vị trong chà được hòa tan vào nhau; khiến cho trà vừa có mùi thơm vừa có vị sâu và đậm; nước trà không bị xỉn màu, sắc nước luôn có màu vàng xanh, sóng sánh, nhìn rất đẹp mắt. Có lẽ do vậy mà ở làng cổ Đường Lâm người ta truyền đời câu nói “Nước giếng Nghè – chè Cam Lâm” (đun nước giếng Nghè - giếng làm bằng đá ong để pha trà ở Cam Lâm hoặc nấu với lá chè ở Cam Lâm luôn được coi là sự kết hợp hoàn hảo; nước trà đẹp, vị ngọt hậu, đậm đà, thơm dịu, lâu tan).

Gạch đá ong là loại vật liệu xây dựng tự nhiên. Khác với các loại gạch xây dựng khác, không cần nung qua lửa hay sử dụng thêm các phụ gia khác để làm thành viên gạch. Gạch đá ong hoàn toàn lấy một cách tự nhiên từ trong lòng đất, chỉ cần đục đẽo, cắt gọt thành hình là xong. Do đặc điểm tự nhiên, trải qua quá trình phong hoá từ đá mẹ kết hợp ô xít sắt, ô xít nhôm … mà đá có màu nâu đỏ cùng với nhiều lỗ nhỏ xù xì, lồi lõm tựa như hình dáng bề mặt những tổ ong. Cũng vì đặc điểm này mà người xứ Đoài gọi những viên gạch làm từ đá này là gạch đá ong. Khi ở trong lòng đất, đá ong khá mềm nhưng khi được đào, đẽo thành viên gạch đưa lên mặt đất, những viên gạch đá ong được tiếp xúc với không khí, ánh sáng và trở nên rắn chắc. Bởi thế người ta gọi là gạch nhưng không cần nung. Tuy không nung nhưng loại gạch này rất chắc và cứng; rắn như đá. Và cái tên gạch đá ong cũng được hình thành từ chính những đặc điểm cơ bản ấy. Làm gạch đá ong, nghe qua thì có vẻ khá đơn giản nhưng kỳ thực nghề làm này ở xứ Đoài là một nghề rất cực nhọc. Bây giờ, nghề làm đá ong có nhiều máy móc hiện đại hỗ trợ nên người làm đá đỡ vất vả hơn. Nhưng trước kia, nghề làm đá ong này chỉ nhờ vào sức người và các dụng cụ đục đẽo thủ công hết sức thô sơ như thuổng, xà beng, thó, búa, cuốc chim, găng tay và giầy vải … nên là nghề lao động cực khổ. Cũng bởi thế nghề này rất kén người, thường là nam giới và những người phải trẻ, còn khoẻ. Bình thường, người khoẻ có thể đào, đánh mỗi ngày được khoảng bốn chục viên gạch, còn bình quân khoảng ba mươi viên. Viên gạch đá ong thường có kích thước dài 36 cm, rộng 20 cm, dày 20 cm; mỗi viên nặng khoảng chừng từ 18 kg đến 20 kg.

Ngày xưa nghề làm đá ong chủ yếu là chế tác thành gạch để xây tường rào, làm bếp, làm nhà, xây đình, dựng chùa, lát đường đi, quấn tang giếng, kè bờ ao ... Và, theo thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội, ngành xây dựng đã cho ra đời rất nhiều loại vật liệu xây dựng mới, tự nhiên có và nhân tạo cũng có. Những loại vật liệu mới này kinh tế và tiện lợi hơn gạch đá ong bởi thế cũng có thời kỳ nghề làm gạch đá ong này tưởng như đã bị mai một. Nhưng rồi cái nghề cực nhọc ấy cũng đã được hồi sinh. Những người thợ đá với sự sáng tạo, tình yêu nghề đã âm thầm giữ lửa và tìm được chỗ đứng mới cho đá ong trong nền kiến trúc hiện đại. Bằng óc thẩm mỹ, giàu chất sáng tạo và sự cần cù của đôi tay, những thợ đá xứ Đoài đã phát triển đa dạng nghề làm đá ong. Sản phẩm từ đá ong giờ đây không chỉ gạch để phục vụ các công trình xây dựng mà còn các sản phẩm nghệ thuật dùng để trang trí. Dưới đôi tay tài hoa của người thợ đá, hàng trăm, hàng ngàn bức phù điêu, lộc bình, rồng, phượng, voi, sư tử, trâu, chuột, hổ khỉ, bình hoa … rất sống động đã được xuất hiện trong các công viên, thiệt thự, nhà vườn, nhà hàng … với tư cách là những tiểu cảnh dùng để trang trí, nhìn rất ngộ nghĩnh. Điều đặc biệt, quá trình chế tác các sản phẩm này, người thợ đá hoàn toàn không có bản vẽ. Họ sáng tạo một cách ngẫu hứng, dựa vào hoa tay và óc thẩm mỹ của riêng mình. Bởi thế, mỗi một sản phẩm nghệ thuật được chế tác từ đá ong là một món hàng độc bản, vô cùng độc đáo, không có sản phẩm nào giống sản phẩm nào. Cũng chính bởi thế mà đồ mỹ nghệ chế tác từ đá ong ngày càng được người tiêu dùng yêu thích, nhất là những người hay hồi cổ, hoài niệm, gắn bó với làng quê. Giờ đây, sản phẩm đá ong không chỉ có ở xứ Đoài mà còn xuất hiện nhiều nơi khác, từ phố phường cho đến khắp mọi làng quê. Đá ong không chỉ cung cấp gạch cho xây nhà, làm tường, làm giếng, kè hồ mà còn cung cấp các sản phẩm để ốp lát và trang trí, làm các tiểu cảnh. Và, nhiều người mỗi lần trông thấy đá ong như thế người ta lại có cái cảm giác được như thấy cái màu của nắng, cái mùi của gió, cái vị của đất đồi gò … đâu đó từ những làng quê thanh bình thủa xưa trở về giữa nhịp sống có phần xô bồ, đầy bụi bặm ở phố phường…

Đã bao lần tôi lang thang trên đất xứ Đoài, trong những con ngõ nhỏ, ngắm nhìn những mái ngói rêu phong; những tường đá ong nâu đỏ, xù xì, thô ráp để lắng nghe hơi thở của đá cùng những tiếng lòng của ông cha từ ngàn xưa vọng về. Rồi cứ mỗi lần như thế tôi lại thấy trong mình có một cảm giác thư thái, nhẹ nhàng, ấm áp đến lạ lùng. Và mỗi lần cất bước lang thang theo tiếng gọi của đá ong trên miền quê xứ Đoài, tôi lại thấy mình giống như một khách bộ hành đang trên con đường đi ngược thời gian để tìm về với cội nguồn, giữa một thế giới vô cùng trong lành và bình yên đến lạ./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Đào Thị Thu Hiền. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Bài liên quan
  • Anh mãi tìm em giữa lòng Hà Nội
    Có những ký ức không bao giờ cũ. Càng đi qua năm tháng, chúng không mờ đi mà chỉ lắng sâu hơn, như một thứ trầm tích của tâm hồn con người, càng chạm vào càng đau, càng nhớ lại càng thấy lòng mình bâng khuâng, xao xuyến. Hà Nội trong tôi không chỉ là phố, là hồ, là mùa mà Hà Nội còn có cả em. Và em là cả một thời tuổi trẻ tôi đã sống, đã yêu thương, đã đợi chờ, và đã mất em!
(0) Bình luận
  • Anh mãi tìm em giữa lòng Hà Nội
    Có những ký ức không bao giờ cũ. Càng đi qua năm tháng, chúng không mờ đi mà chỉ lắng sâu hơn, như một thứ trầm tích của tâm hồn con người, càng chạm vào càng đau, càng nhớ lại càng thấy lòng mình bâng khuâng, xao xuyến. Hà Nội trong tôi không chỉ là phố, là hồ, là mùa mà Hà Nội còn có cả em. Và em là cả một thời tuổi trẻ tôi đã sống, đã yêu thương, đã đợi chờ, và đã mất em!
  • Dòng sông dệt nên cốt cách Hà thành
    Có những dòng sông chỉ đi qua một vùng đất, nhưng cũng có những dòng sông lại vào ký ức, vào tâm thức của con người. Với Hà Nội, sông Hồng là một dòng sông như thế. Từ thượng nguồn đỏ nặng phù sa, con sông lặng lẽ chảy qua bao mùa mưa nắng, ôm lấy Thủ đô như một dải lụa nâu bền bỉ của thời gian. Người Hà Nội sống cùng sông Hồng, lớn lên cùng sông Hồng và rồi trong sâu thẳm, ai cũng mang trong mình một phần bóng dáng của dòng sông ấy.
  • Mùi phố…
    Không biết bắt đầu từ khi nào nhưng có lẽ phải từ rất lâu rồi, tôi có thói quen thích lang thang một mình ngắm phố. Tôi thích ngắm Hà Nội bất kể là nắng hay mưa, cả khi trời nóng lẫn khi trời trở lạnh. Trong hành trình ấy, tôi không chỉ chứng kiến một Hà Nội đổi khác mà còn như nghiện cái mùi của phố khi lang thang cùng nó.
  • Tiếng búa cuối cùng trên phố Hàng Bạc
    Phố Hàng Bạc hôm nay ồn ào và lấp lánh. Sáng sớm đã nghe tiếng xe máy, tiếng rao hàng, tiếng loa phường. Cửa tiệm vàng bạc nối đuôi nhau, tủ kính lấp lánh trưng bày những sản phẩm công nghiệp bóng loáng, đẹp đẽ một cách vô hồn. Những chiếc máy ảnh ngoại quốc chụp vội, những bàn tay xa lạ lướt qua tủ kính, chẳng ai kịp nghe thấy tiếng động từ trong ngõ nhỏ. Phố Hàng Bạc bây giờ giàu có, hiện đại, nhưng hình như thiếu một thứ gì. Thiếu cái âm thanh cũ, cái nhịp đập cũ của làng nghề.
  • Hà Nội - Một góc quê trong lòng phố
    Có những thành phố người ta nhớ đến vì những công trình lớn, những con đường rộng thênh thang hay ánh đèn rực rỡ về đêm. Còn Hà Nội, với tôi, lại bắt đầu từ một con ngõ nhỏ và một người bà không còn biết giờ đã về đâu.
  • Hà Nội - Nhớ kem Tràng Tiền
    Tôi sinh ra và lớn lên ở Thủ Đức, TP.HCM. Bố mẹ tôi từ miền Bắc đã di chuyển vào miền Nam sinh sống sau ngày giải phóng đất nước. Cách vài năm, tôi lại bay ra Hà Nội thăm họ hàng ở đấy. Tháng này, tôi có dịp bay ra Hà Nội, cũng là để thắp nén nhang cho người bác ở quận Ba Đình, tròn 100 ngày bác mất.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Triển lãm "Sĩ tử 3 – Chuyện sĩ tử": Không gian nghệ thuật tôn vinh đạo học Việt Nam
    Hướng tới kỷ niệm 950 năm ra đời Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường Quốc học đầu tiên của Việt Nam (1076 - 2026), chiều 27/5, triển lãm nghệ thuật “Sĩ tử 3 – Chuyện sĩ tử” đã khai mạc tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.
  • [Podcast] Tản văn: Phố cũ
    Chiều. Làn gió se lạnh vời vợi dọc theo những con phố. Gió về cuốn đi cái oi nồng của những ngày nắng hanh hao. Bỗng vòng xe vô tình rẽ vào phố cũ. Lâu lắm không về phố, hình như đã không còn cảm giác thân thuộc ngày nào. Phố cũ hiện ra trước mặt là lạ, quen quen…
  • Hà Nội khơi dậy sức mạnh văn hóa, kiến tạo động lực phát triển Thủ đô trong thời kỳ mới
    Việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đang được Hà Nội thực hiện với tinh thần khẩn trương, bài bản và quyết liệt. Từ công tác quán triệt, tuyên truyền đến xây dựng chương trình hành động, xác lập các mục tiêu chiến lược và đầu tư nguồn lực, Thủ đô từng bước khẳng định quyết tâm đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực phát triển bền vững.
  • Trường THCS Chương Dương tiếp sức học sinh lớp 9 trước kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026–2027
    Sáng 28/5, trường THCS Chương Dương (phường Hồng Hà, Hà Nội) đã tổ chức một chương trình gặp mặt đầy ấm áp, dặn dò, động viên và tặng quà cho toàn thể học sinh khối 9 trước khi các em chính thức bước vào Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2026–2027. Buổi gặp mặt diễn ra vô cùng giản dị, nhưng đọng lại trong tim mỗi người tham dự là những giọt nước mắt xúc động, là tình thầy trò thiêng liêng và những giá trị nhân văn sâu sắc.
  • Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thủ đô
    Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 943/QĐ-TTg ngày 26/5/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thủ đô. Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức thi hành Luật Thủ đô...
Đừng bỏ lỡ
Đá ong, hồn quê xứ Đoài
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO