Di vật khảo cổ học: Những giải mã ý nghĩa cho lịch sử và bảo tồn di sản

Nguyễn Văn Hảo| 14/11/2022 10:49

Song hành với công cuộc xây dựng đất nước, các di vật khảo cổ học được phát hiện ngày một nhiều. Việc xác định tộc thuộc của các di vật đó - điều cơ bản trong quá trình nghiên cứu và bảo tồn di vật khảo cổ học, càng trở nên cấp thiết bởi nó gắn liền với những giải mã lịch sử, cũng như việc bảo tồn di tích, di sản Việt.

Tuy nhiên, xác định tộc thuộc của một loại di vật không phải là công việc “một sớm một chiều”, có những hành trình kéo dài tới hàng chục năm, như việc xác định tộc thuộc của trống đồng Đông Sơn, của Nha Chương. Song đó là “động tác” đầy ý nghĩa đối với lịch sử và việc bảo tồn di sản văn hóa Việt.

hinh-dang-trong-dong-lang-vac-1(1).jpg
Hình dáng trống đồng Làng Vạc 1.

Thêm nhận diện cho di sản trống đồng Đông Sơn
Trong những năm 50 của thế kỷ trước, các nhà khảo cổ học Trung Quốc khai quật khu mộ táng người Điền ở Thạch Trại Sơn (huyện Tấn Ninh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), phát hiện gần 100 ngôi mộ của người Điền. Trong số 100 ngôi mộ đó có 10 ngôi mộ thuộc tầng lớp quý tộc nước Điền, và trong đồ tùy táng của họ có 19 chiếc trống đồng cùng gần 40 đồ vật liên quan đến trống đồng. Ngay lập tức, giới khảo cổ học Trung Quốc lên tiếng nhận di sản trống đồng là của dân tộc mình. Minh chứng là trong tác phẩm “Trống đồng cổ của Trung Quốc”, Hội nghiên cứu trống đồng cổ Trung Quốc nhận định: Sưu tập trống đồng đó là sản phẩm của người Điền, do người Điền chế tạo và sử dụng, nó là di vật của văn hóa Điền, bởi vì chúng được phát hiện trong mộ người Điền. Thêm vào đó, khi bàn về tộc thuộc của trống Đông Sơn (trống Thạch Trại Sơn), các nhà khảo cổ học Trung Quốc còn cho rằng, phạm vi phân bố của loại trống này khá rộng, 6 dân tộc cư trú trong phạm vi đó đều là dân tộc chế tạo và sử dụng loại trống này.

hoa-van-trang-tri-tren-mat-trong-dong-ngoc-lu-anh-bao-tang-lich-su-quoc-gia..jpg
Hoa văn trang trí trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia.


Luận điểm đó của giới khảo cổ học Trung Quốc không khỏi tạo ra những tranh cãi về chuyên môn cho giới khảo cổ học Việt Nam. Ta có thể đặt câu hỏi cho một số vấn đề: Nếu coi sưu tập trống Đông Sơn chôn trong mộ người Điền là sản phẩm của người Điền, do người Điền chế tạo, thì tại sao các đồ vật bằng đồng khác của văn hóa Điền lại không trang trí hoa văn người lông chim như trên trống đồng? Ngược lại, hoa văn người lông chim không chỉ trang trí trên trống đồng Đông Sơn mà còn trang trí trên một số đồ đồng của văn hóa Đông Sơn như thạp, thố, chậu, rìu, hộ tâm phiến… tất cả đều là di vật của văn hóa Đông Sơn.
Các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng 6 dân tộc sinh sống trong phạm vi phân bố của trống Đông Sơn (trống Thạch Trại Sơn) đều là tác giả đã chế tạo và sử dụng trống Đông Sơn. Chúng ta đều biết, đến nay, trong 6 dân tộc ngụ cư tại đó, chỉ có người Lạc Việt và người Điền là có một nền văn hóa đồ đồng phát triển, 4 dân tộc còn lại chưa phát hiện được bất kỳ thứ đồ đồng nào thuộc về họ. Vậy làm sao họ có thể chế tạo ra một loại nhạc cụ - trống đồng - có kích thước lớn và hoa văn trang trí đẹp như vậy?
Hơn thế nữa, trong khu vực cư trú của một vài dân tộc ở khu vực Tây Nam Quảng Tây và khu vực Bắc Việt Nam, ngoài trống đồng Đông Sơn, còn phát hiện một loại trống khác là trống Vạn Gia Bá. Vậy ngoài dân tộc chế tạo trống đồng Đông Sơn, dân tộc nào đã chế tạo ra loại trống Vạn Gia Bá đang tồn tại ở đây?

nha-chuong-tim-thay-tai-phu-tho.jpg
Một số Nha chương được tìm thấy tại tỉnh Phú Thọ (Ảnh do PGS.TS. Đặng Hồng Sơn cung cấp)


Một điều đáng chú ý, trong sưu tập trống chôn trong mộ người Điền ở Thạch Trại Sơn, có một số trống Đông Sơn bị người Điền cạo sạch hoa văn người lông chim, khắc đè lên đó hoa văn người mặc áo dài - hình ảnh của người Điền, biến trống Đông Sơn thành trống của người Điền. Vì sao người Điền lại làm như vậy? Có gì khác ngoài nguyên nhân: vì trống Đông Sơn - trống có trang trí hoa văn người lông chim, không phải là trống thuộc văn hóa Điền. Điều đó ngược với luận điểm của các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng trống chôn trong mộ người Điền đều là trống của người Điền, do người Điền chế tạo.


Trong sưu tập trống chôn trong mộ người Điền chủ yếu là trống Đông Sơn - trống do người Lạc Việt chế tạo và trống của người Điền do người Điền mô phỏng trống Đông Sơn hoặc cải tạo trống Đông Sơn thành trống người Điền. Vậy, một sưu tập trống Đông Sơn - trống do người Lạc Việt chế tạo, đã tồn tại ở đây bằng cách nào?


Tóm lại, xác định tộc thuộc của trống đồng nói riêng và các loại di vật khảo cổ học nói chung, không đơn giản chỉ dựa vào tiêu chí địa điểm, hoặc di tích đã phát hiện ra chúng. Đồng nghĩa, khi chiếc trống đồng (trước nay vẫn thuộc về văn hóa Đông Sơn, do người Lạc Việt chế tác) được phát hiện tại khu Thạch Trại Sơn (Trung Quốc), các nhà khảo cổ học Trung Quốc lại đặt ra vấn đề: Trống Đông Sơn (mà các nhà khảo cổ học Trung Quốc gọi là trống Thạch Trại Sơn) là sản phẩm của các dân tộc sinh sống trên đất nước Trung Quốc ngày nay là hoàn toàn không có căn cứ. Chính những nghiên cứu để xác định đúng tộc thuộc của trống đồng Đông Sơn đã cho ta thêm những nhận định về một di sản quý giá của người Việt cổ này.

Chứng tích của cuộc đấu tranh chống giặc Ân

Từ năm 1976, trong quá trình lao động và sản xuất, người dân Phú Thọ đã tìm thấy một sưu tập đồ đá có hình dáng kỳ lạ. Chúng được làm bằng loại đá có độ hạt mịn, độ cứng cao (Nephơrít), mài nhẵn toàn thân, trên thân không còn dấu vết ban đầu. Các di vật đá đó có thân hình mỏng, rộng hẹp, dài ngắn khác nhau gồm: chuôi, thân, lưỡi và 2 mấu nhỏ ở phần tiếp giáp giữa chuôi và thân. Mô tả bộ sưu tập đồ đá, các nhà khảo cổ học ghi nhận: Chuôi thường có hình chữ nhật, ngắn gần vuông, trên chuôi thường có từ một đến hai lỗ khoan nhỏ, có thể dùng trong lúc táp thêm một cán, chuôi bằng gỗ; thân mỏng dài, lưỡi ở đầu thân, có loại lưỡi tương tự như đuôi cá, có loại cong lõm vào. Thoáng nhìn nó giống như một chiếc răng, có chân răng, thân răng. Nhìn chung di vật mảnh mai, không phù hợp với một công cụ dùng trong lao động sản xuất hoặc một công việc đòi hỏi sức mạnh. Hơn nữa, tại nơi được gọi là lưỡi, chưa phát hiện thấy dấu vết sử dụng… Bước đầu, giới làm khảo cổ đoán định, nó có thể là một biểu tượng cho một ý tưởng nào đó của triều đại.


Tuy nhiên, loại di vật này đã từng được tìm thấy ở Trung Quốc, các nhà khảo cổ học Trung Quốc gọi nó là Nha chương. Nhiều nhất là những chiếc Nha chương của triều đại nhà Thương, được coi là những Nha chương có niên đại sớm nhất. Chúng có hình dáng phong phú, biến đổi theo thời gian và địa điểm phát hiện. Cho đến nay, các nhà khảo cổ học Trung Quốc cũng chưa có câu trả lời thống nhất cho câu hỏi “Nha chương được chế tạo để làm gì?”. Song, đáng chú ý trong số các ý kiến đưa ra đó có quan điểm cho rằng loại di vật này liên quan đến quân sự, dùng để điều binh khiển tướng. Đây là chiều suy luận thuyết phục, bởi di vật được phát hiện trong di chỉ của triều đại xã hội phát triển. Nhà Thương lúc đó đã bước vào xã hội nô lệ, mọi mặt đều phát triển, đã phát minh ra chữ viết…, lại thường xuyên đem quân đi xâm lược các dân tộc khác để cướp của, bắt người làm nô lệ. Do vậy, việc điều binh, khiển tướng trở thành nhu cầu của tầng lớp quý tộc lúc đó.


Trở lại với bộ sưu tập đồ đá ở Phú Thọ, tính đến nay đã phát hiện được 8 thanh Nha chương, trong đó 3 chiếc trong di chỉ Phùng Nguyên, 5 chiếc trong di chỉ xóm Rền, đều là di chỉ của văn hóa Phùng Nguyên. Chúng tồn tại trong mộ táng, trong hố đất đen, trong tầng văn hóa của di chỉ đó. Nhưng cũng cần nói thêm, không phải mộ táng, hố đất đen của di chỉ khác thuộc văn hóa Phùng Nguyên cũng phát hiện di vật này. Ví dụ như ở di chỉ Nghĩa Lập gần đó - cũng là một di chỉ của văn hóa Phùng Nguyên, nhưng trong mộ táng, hố đất đen, tầng văn hóa… chưa phát hiện một thanh Nha chương nào.


Không ít câu hỏi đã được đưa ra cho Nha chương ở Phú Thọ: Thứ nhất, nếu chúng là di vật của văn hóa Phùng Nguyên, vì sao chỉ tập trung trong một hai di chỉ? Thứ hai, nếu chúng là di vật của văn hóa Phùng Nguyên, thì nhu cầu của người Phùng Nguyên đối với di vật này như thế nào? Thứ ba, những chiếc Nha chương phát hiện ở Phú Thọ lại rất giống với những chiếc Nha chương của nhà Thương. Do vậy rất khó nhận định, những chiếc Nha chương phát hiện ở Phú Thọ là sản phẩm của người Phùng Nguyên chế tạo... Trong một lần trao đổi với cố Giáo sư Hà Văn Tấn, tác giả bài viết này đã từng bày tỏ quan điểm và nhận được sự đồng tình của ông khi nhận định, loại di vật này không phải là của văn hóa Phùng Nguyên. Sự có mặt của chúng ở Phú Thọ hẳn liên quan đến cuộc xâm lược của nhà Thương đối với nước ta.


Người Việt không ai không biết câu chuyện Thánh Gióng đánh giặc Ân, nhưng không phải ai cũng giải mã được giặc Ân từ nước nào, thuộc thời đại nào ở phương Bắc đến xâm lược nước ta. Theo lịch sử Trung Quốc, sau khi nhà Hạ bị lật đổ, nhà Thương ra đời, vào giai đoạn cuối, nhà Thương chuyển đến khu vực Ân Khư, huyện An Dương, tỉnh Hà Nam ngày nay, và cũng từ đó nhà Thương được gọi là nhà Ân. Nhà Ân chính là tên gọi khác của nhà Thương, giặc Ân mà nhân dân ta gọi chính là giặc nhà Thương. Chuyện Thánh Gióng còn cho biết lúc đó nhân dân ta đã biết dùng vũ khí bằng sắt như kiếm sắt, roi sắt... để đánh đuổi giặc Ân ra khỏi bờ cõi. Từ đây, có thể suy luận, những thanh Nha chương ở Phú Thọ hẳn có liên quan đến giặc Ân xâm lược nước ta. Chúng chính là chứng tích của cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của giặc Ân (nhà Thương) ra khỏi bờ cõi.
Câu chuyện của trống đồng Đông Sơn và Nha chương ở Phú Thọ là minh chứng rõ nét cho sự tham gia của di vật khảo cổ vào giải mã lịch sử, góp phần bảo tồn di sản. Rõ ràng, khảo cổ học với những điều “tai nghe mắt thấy” từ thực tế có vai trò đắc lực trong công cuộc bảo tồn di sản văn hóa Việt

Bài liên quan
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải lưu vực S3, nhà máy xử lý nước thải Phú Đô
    Tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề) ngày 11/5, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải cho lưu vực S3 tại các phường Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Yên Hòa, Phú Diễn, Từ Liêm, Đại Mỗ và Nhà máy xử lý nước thải Phú Đô, Thành phố Hà Nội, theo hình thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT).
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Quốc lộ 1A lên 90m
    Dự án trục không gian Quốc lộ 1A có chiều dài khoảng 36,3km, đoạn từ đường Vành đai 1 đến nút giao Cầu Giẽ, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 162.000 tỷ đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
Di vật khảo cổ học: Những giải mã ý nghĩa cho lịch sử và bảo tồn di sản
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO