Hành vi kết nối mạng lưới và cơ chế hoạt động: Một số gợi ý cho người lao động làm việc tại Việt Nam

VNHN| 11/01/2020 20:16

Kết nối mạng là một trong những hành vi được người lao động thực hiện trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, đây là một trong các thuật ngữ khá mới mẻ đối với người lao động tại Việt Nam cũng như một số quốc gia có nền kinh tế mới nổi trên thế giới. Bài viết trên cơ sở trình bày một số khái niệm, cách thức đo lường và cơ chế hoạt động của hành vi kết nối mạng, từ đó đưa ra một số gợi ý nhằm giúp cá nhân người lao động hiểu rõ để thực hiện hành vi kết nối mạng một cách hiệu quả trong quá trình làm việc.

Hành vi kết nối mạng lưới và cơ chế hoạt động: Một số gợi ý cho người lao động làm việc tại Việt Nam

Ảnh minh họa

I. Giới thiệu chung

Kết nối mạng lưới quan hệ dưới dạng hành vi được sử dụng như là một phương pháp tạo ra những yếu tố thuận lợi để phát triển cho sự nghiệp của các cá nhân (Wolff và Moser, 2009). Bên cạnh đó, hành vi kết nối mạng lưới quan hệ (gọi chung là hành vi kết nối mạng trong bài viết này) đóng góp vào các hoạt động của tổ chức bằng cách hỗ trợ tuyền thông trong tổ chức và tiếp cận các nguồn lực. Theo Torres, 2005, hành vi và cách thức kết nối mạng của một người có ảnh hưởng lớn đến thành công của một cá nhân hơn là khả năng, kiến thức và kinh nghiệm của họ.

Chúng ta biết, con người (bao gồm tập hợp các nhà quản lý các cấp và các nhân viên) trong tổ chức là yếu tố vô cùng quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của một tổ chức. Chính vì vậy, mọi nhà quản lý, điều hành đều đặt mối quan tâm về con người lên hàng đầu trong chiến lược xây dựng và phát triển tổ chức. Việc thực hiện kết nối mạng trong tổ chức như thế nào là một trong những cách khai thác và phát huy tốt nhất nguồn nhân lực của tổ chức. Bên cạnh đó, việc kết nối và thực hiện hành vi kết nối mạng bên ngoài tổ chức cũng đóng vai trò rất lớn đến tổ chức. Và đặc biệt hơn, hành vi kết nối mạng của mỗi cá nhân người lao động nói chung, đội ngũ giám đốc nói riêng sẽ có tác động trực tiếp lên sự thành công trong sự nghiệp của chính bản thân họ.

Mục tiêu của bài báo là tổng kết, nghiên cứu và tổng hợp các lý thuyết về định nghĩa, cơ chế về hoạt động kết nối mạng của người lao động trong tổ chức. Bên cạnh đó, các chỉ dẫn về phương pháp tiếp cận để đo lường được thảo luận. Cuối cùng, nhóm tác giả muốn nhấn mạnh đến cơ chế hoạt động kết nối mạng và đưa ra một số gợi ý cho người lao động Việt Nam.

II. Tổng quan về hành vi kết nối mạng

1. Một số định nghĩa về kết nối mạng và hành vi kết nối mạng

"Kết nối mạng là gì" từ lâu luôn là một câu hỏi mà các nhà nghiên cứu vẫn tìm kiếm câu trả lời trong nhiều nghiên cứu của mình.

Gould và Penley (1984) đã cung cấp một trong những định nghĩa thực nghiệm đầu tiên về kết nối, trong đó mô tả kết nối mạng là thực tiễn phát triển một hệ thống hoặc “kết nối” các địa chỉ liên lạc bên trong và hoặc bên ngoài tổ chức nhằm cung cấp thông tin nghề nghiệp có liên quan và hỗ trợ cho cá nhân.

Michael và Yukl (1993) đã có một quan điểm cá nhân hơn bằng cách xác định hành vi kết nối mạng là hành vi được thiết kế để xây dựng mối quan hệ giữa các cá nhân không chính thức với mọi người trong và ngoài tổ chức.

Ngược lại, Orpen (1996) tin rằng, kết nối chủ yếu tập trung vào lợi ích và đề cập chủ yếu đến các kết nối bên ngoài. Theo đó, Orpen xác định kết nối mạng là quá trình xây dựng và duy trì một tập hợp các mối quan hệ hợp tác không chính thức với những người không phải là cấp trên và cấp dưới của người quản lý với mong muốn rằng các mối quan hệ như vậy sẽ giúp đỡ hoặc giúp người quản lý thực hiện tốt hơn công việc của mình.

Một số học giả xem các hành vi kết nối mạng tập trung vào mục tiêu xây dựng các mối quan hệ sẽ giúp các cá nhân tiến bộ trong sự nghiệp của họ (ví dụ: Forret và Dougherty, 2004). Trong khi một số khác lại cho rằng, định nghĩa về kết nối mạng là nỗ lực cá nhân để phát triển và duy trì mối quan hệ với những người khác có tiềm năng giúp đỡ họ trong công việc hoặc sự nghiệp của họ. Tương tự như vậy, Wolff và Moser đã xác định kết nối mạng là hành vi nhằm mục đích xây dựng, duy trì và sử dụng các mối quan hệ không chính thức có lợi (tiềm năng) trong việc tạo điều kiện cho các hoạt động liên quan đến công việc của cá nhân bằng cách tự nguyện tiếp cận các nguồn lực và tối đa hóa lợi ích chung.

Như vậy, qua các khái niệm trên có thể hiểu bản chất của hành vi kết nối mạng như sau:

1) Thể hiện hành động và thái độ cụ thể của người lao động trong mối quan hệ với người khác nhằm mục đích có lợi cho sự phát triển sự nghiệp cá nhân. Điều này có nghĩa là hành vi kết nối mạng mang tính cá nhân. Hành vi kết nối mạng gắn liền với cá nhân, công việc và tổ chức.

2) Hành vi kết nối mạng được thực hiện cả bên trong và bên ngoài tổ chức của người đó. Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã gợi ý rằng kết nối nội bộ có thể có giá trị hơn kết nối bên ngoài (Wolff và Moser, 2009), những lợi ích của kết nối bên ngoài có thể tạo điểm nhấn tốt hơn trong các ngành cạnh tranh với sự di chuyển lớn hơn giữa các công việc và tổ chức. Hơn nữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, kết nối nội bộ và kết nối bên ngoài có thể mang lại những kết quả khác nhau (Wolff và Moser, 2010). Vì vậy, nhóm tác giả cho rằng, điều quan trọng là phải xem xét cả hai loại kết nối khi phát triển một lý thuyết toàn diện về kết nối trong các tổ chức.

3) Sự phân biệt các giai đoạn phát triển trong mối quan hệ kết nối mạng. Một số định nghĩa đề cập đến việc thiết lập và duy trì mối quan hệ, trong khi một số khác bao gồm việc duy trì các địa chỉ liên lạc đã được thiết lập. Điều này mang những ý nghĩa quan trọng thể hiện kết nối mạng là một quá trình tích cực và liên tục, chứ không đơn giản chỉ là gặp gỡ những người mới. Các mối quan hệ kết nối tồn tại dựa trên chất lượng và lợi ích mà nó mang lại. Một số liên kết chắc chắn sẽ mạnh hơn các liên kết khác và sẽ hữu ích trong các tình huống và thời gian khác nhau trong mối quan hệ kết nối.

4) Hành vi được thúc đẩy bởi mục đích cuối cùng hoặc mục tiêu nhất định. Tuy nhiên, mục đích rõ ràng của việc kết nối không nhất quán trong các định nghĩa, đôi khi hành vi kết nối mạng đề cập đến việc trợ giúp trong công việc hoặc nghề nghiệp, trao đổi thông tin, lợi ích và ảnh hưởng, hoặc tiếp cận các nguồn lực và tối đa hóa lợi thế của những cá nhân có liên quan.

2. Đo lường sự kết nối mạng và hành vi kết nối mạng

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc tiến hành nghiên cứu về kết nối mạng là quyết định cách đo lường tốt nhất. Kết nối mạng thể hiện thông qua hành vi kết nối mạng, được coi là một cấu trúc phức tạp và năng động dẫn đến các sự thay đổi trong hoạt động. Thực tế cho thấy, phần lớn các nghiên cứu định lượng đo lường hành vi kết nối thông qua các hành vi, tần suất lặp lại của hành vi tại cùng thời điểm với các biến số quan tâm. Các hành vi kết nối mạng có thể được đo lường thông qua cách phân loại: Hành vi kết nối mạng bên trong và hành vi kết nối mạng bên ngoài; hoặc phân loại các loại hành vi với các nội dung cụ thể, ví dự như: duy trì liên lạc, tham gia các hoạt động chuyên nghiệp, tham gia các hoạt động cộng đồng, hay các hoạt động nội bộ trong doanh nghiệp.

Thông thường, sự đo lường hành vi kết nối mạng liên quan đến 1 yếu tố đầu ra nhất định, chẳng hạn, nếu nhà nghiên cứu quan tâm đến kết quả của hành vi kết nối mạng tương tác đến một yếu tố nhất định, ví dụ như sự thành công hay đầu ra của sự nghiệp, thì các hành vi kết nối mạng và kết quả tác động sẽ được đo lường tại một thời điểm và phân tích bằng cách sử dụng các hành vi kết nối mạng để dự đoán các yếu tố tương tác đầu ra đó.

III. Cơ chế hoạt động của hành vi kết nối mạng

Việc phát triển nghiên cứu thực nghiệm về hành vi kết nối mạng của các cá nhân trong các tổ chức luôn dựa trên hai cơ chế tiềm năng, bao gồm: Tiếp cận thông tin và Vốn xã hội.

1. Tiếp cận thông tin

Một cơ chế có thể làm trung gian mối quan hệ giữa kết nối mạng và kết quả đầu ra nhất định là tiếp cận thông tin. Các hành vi kết nối chuyên nghiệp và phát triển tốt hơn sẽ cho phép các cá nhân truy cập vào một phạm vi thông tin rộng hơn. Điều này sẽ giúp họ có được thông tin liên quan mới về việc làm, sự phát triển trong tổ chức và sự hiểu biết toàn diện hơn về các tình huống phát sinh trong hoạt động làm việc để hỗ trợ hoạt động trong sự nghiệp của họ.

Hỗ trợ khái niệm này, Seidel et al (2000) nhận thấy rằng, các mạng lưới quan hệ xã hội có xu hướng giúp cho người lao động kết quả đàm phán tiền lương tốt hơn cho người lao động. Các thông tin sẽ được chia sẻ giữa các cá nhân, giúp cho họ có kết nối mạng xã hội tốt hơn, có khả năng thương lượng mức lương cao hơn. Thông tin này đặc biệt hữu ích khi các nhân viên có thể tham khảo từ các đồng nghiệp có ảnh hưởng và uy tín. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nên chú ý cách mà một cá nhân tương tác với kết nối mạng với người khác. Qua nghiên cứu của Judge và Bretz (1994), các nhà nghiên cứu khác nhận thấy rằng, hành vi kết nối mạng có thể hình thành một cách rất đơn giản bởi vì cá nhân sẽ thân thiện với những người có ảnh hưởng đến sự nghiệp của chính họ. Những người có hành vi kết nối mạng đặc biệt, có thể đạt được thành công trong sự nghiệp thông qua việc biết và tiếp xúc với "đúng" người.

Bằng cách tiếp cận thông tin hạn chế, các cá nhân có quan hệ tốt có thể hiểu sâu hơn về cách thức và các thủ tục hướng dẫn các quyết định tuyển dụng và đề bạt, thăng tiến và điều chỉnh hành vi của họ cho phù hợp với 1 tổ chức nhất định. Những người có hành vi kết nối mạng đặc biệt, có thể đạt được thành công trong sự nghiệp thông qua việc biết và tiếp xúc với "đúng" người, giúp họ thăng tiến hơn trong tương lai.

2. Vốn xã hội

Một cơ chế thứ hai là nền tảng cho hoạt động kết nối mạng chính là vốn xã hội. Vốn xã hội được định nghĩa là sự thiện chí có sẵn cho các cá nhân hoặc các nhóm (Adler và Kwon, 2002). Mặc dù các khái niệm về vốn xã hội và kết nối mạng đã được xem xét cùng nhau, các nhà nghiên cứu vẫn còn trao đổi về các cách thức vốn xã hội liên quan đến kết nối mạng và hành vi kết nối mạng.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, vốn xã hội đề cập đến một mức độ phân tích khác nhau (Wolff và Moser, 2009). Theo quan điểm này, hành vi kết nối mạng và sự kết nối mạng là một cấu trúc ở cấp độ cá nhân, trong khi vốn xã hội đang hoạt động ở mức cao hơn. Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu khác lập luận rằng, hành vi kết nối mạng và sự kết nối mạng nên thuộc về nguồn vốn xã hội (ví dụ như Forret và Dougherty, 2001) theo nghĩa các hành vi kết nối mạng có thể giúp xây dựng vốn xã hội. Vốn xã hội ở cấp độ cá nhân được xem như là cấu trúc của các kết nối mạng liên lạc cá nhân và vận hành một cơ chế kết nối mạng.

Hành vi kết nối mạng có thể được hiểu như là một kết nối riêng lẻ, trong đó, cá nhân đang xây dựng và nuôi dưỡng một cấu trúc hỗ trợ và cá nhân có thể không tham gia tiếp sự kết nối mạng này sau khi đạt được mục đích. Ví dụ: nhân viên tận dụng thời gian để tìm hiểu và phát triển mối quan hệ với đồng nghiệp, sau đó họ được đề bạt, họ có thể sẽ dựa vị trí công việc mới sau khi được đề bạt để biết thông tin hoặc tìm kiếm các đặc quyền khác trong tương lai.

Tóm lại, kết nối mạng có thể dựa trên cơ chế tiếp cận thông tin hoặc vốn xã hội để giải thích cơ chế vận hành của hành vi kết nối mạng giữa các cá nhân với nhau trong tổ chức hay với các yếu tố bên ngoài tổ chức, nhằm tìm kiếm những nguồn tài nguyên có lợi cho sự phát triển cá nhân nhất định.

IV. Một số gợi ý cho người lao động

Trên cơ sở phân tích định nghĩa và cơ chế hoạt động của hành vi kết nối mạng nói chung, nhóm tác giả xin đề xuất một số gợi ý nhằm giúp cá nhân người lao động thực hiện hành vi kết nối mạng đạt hiệu quả. Cụ thể:

Một là, mỗi cá nhân người lao động cần xác định chính xác những đối tượng và mục tiêu để thực hiện hành vi kết nối mạng. Trong quá trình làm việc, học tập, mỗi cá nhân người lao động đôi khi chưa xác định đúng đối tượng nên mục tiêu cũng không thể thực hiện được. Do đó, việc xác định cụ thể, chính xác đối tượng, mục tiêu đề ra mới có thể thực hiện và cho kết quả.

Hai là, cần xây dựng và thực hiện cách thức và hoạt động kết nối mạng phù hợp. Mỗi cá nhân thường có những cách thức kết nối mạng khác nhau, ví dụ như duy trì liên lạc bằng cách trao đổi điện thoại với đối tác, hay gửi tặng các món quà… hoặc đăng kí tham gia những câu lạc bộ chuyên nghiệp. Tuy nhiên, các cá nhân cần xây dựng và thực hiện cách thức hoạt động phù hợp về mặt thời gian và nguồn lực tài chính.

Ba là, cần phải xác định các nguyên tắc cá nhân trong việc thực hiện hành vi kết nối mạng. Với cá nhân, cần thực hiện các nguyên tắc trong giao tiếp phù hợp, ví dụ với việc gấp, hãy trao đổi chậm rãi, hay cẩn thận khi trao đổi về những việc mà mình không biết rõ. Với tổ chức, cần thực hiện theo quy định khi tham gia tổ chức, ví dụ như tham gia các câu lạc bộ, các hoạt động chuyên nghiệp (hội thảo).

Bốn là, cần xây dựng hành vi kết nối mạng có tầm chiến lược nhằm kết nối trong mỗi thời kỳ hoạt động và phát triển sự nghiệp cụ thể. Tại mỗi thời điểm cụ thể, trạng thái hoạt động và nguồn lực của mỗi cá nhân sẽ khác nhau, đặc biệt là trong quá trình phát triển sự nghiệp cụ thể hay tìm kiếm thông tin để thay đổi công việc. Chính vì vậy, việc xác định và thực hiện hành vi kết nối mạng cần phải thực hiện phù hợp cho mỗi giai đoạn này.

ThS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH -  Đại học Điện lực và PGS. TS. TRẦN XUÂN CẦU Nguyên trưởng Khoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực - Trường Đại học Kinh tế quốc dân

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Adler, P.S. and Kwon, S.-W. (2002). "Social capital: Prospects for a new concept", Academy of Management Review, Vol. 27 No. 1, pp. 17 - 40.

2. Forret, M.L. and Dougherty, T.W. (2001). "Correlates of networking behavior for managerial and professional employees", Group & Organization Management, Vol. 26 No. 3, pp. 283 - 311.

3. Forret, M.L. and Dougherty, T.W. (2004). "Networking behaviors and career outcomes: Differences for men and women?", Journal of Organizational Behavior, Vol. 25 No. 3, pp. 419 - 437.

4. Gould, S. and Penley, L.E. (1984), "Career strategies and salary progression: A study of their relationships in a municipal bureaucracy", Organizational Behavior and Human Performance, Vol. 34 No. 2, pp. 244 - 265.

5. Judge, T.A. and Bretz, R.D. (1994), "Political influence behavior and career success", Journal of Management, Vol. 20 No. 1, pp. 43 - 65.

6. Michael, J. and Yukl, G. (1993), "Managerial level and subunit function as determinants of networking behavior in organizations", Group & Organization Management, Vol. 18 No. 3, pp. 328 - 351.

7. Orpen, C. (1996). "Dependency as a moderator of the effects of networking behavior on managerial career success", The Journal of Psychology, Vol. 30 No. 3, pp. 245 - 248.

8. Seidel, M. D. L., Polzer, J. T., & Stewart, K. J. (2000). Friends in high places: The effects of social networks on discrimination in salary negotiations, Administrative Science Quarterly, 45, 1 - 24.

9. Torres, N.L. (2005), "It’s who you know", Entrepreneur, Vol. 33, pp. 128 - 132.

10. Wolff, H.-G. and Moser, K. (2009). "Effects of networking on career success: A longitudinal study", Journal of Applied Psychology, Vol. 94 No. 1, pp. 196 - 206.

https://vietnamhoinhap.vn/article/hanh-vi-ket-noi-mang-luoi-va-co-che-hoat-dong-mot-so-goi-y-cho-nguoi-lao-dong-lam-viec-tai-viet-nam---n-26069

(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Hà Nội thông qua chủ trương đầu tư Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng
    Sáng 11/5, tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề), HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • Kế hoạch tuyển sinh lớp 10, lớp 6, lớp 1 và mầm non tại Hà Nội
    Ban Chỉ đạo thi, tuyển sinh Thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch 01/KH-BCĐ về việc tổ chức thi, tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông và tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp 1, lớp 6 thành phố Hà Nội năm học 2026-2027.
Đừng bỏ lỡ
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
Hành vi kết nối mạng lưới và cơ chế hoạt động: Một số gợi ý cho người lao động làm việc tại Việt Nam
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO