Văn hóa – Di sản

Kiều Oánh Mậu – nhà khoa bảng yêu nước

Nguyễn Minh Tường - Nguyễn Hữu Sơn 20/11/2023 08:53

Kiều Oánh Mậu (1854-1911), tự là Tử Yến, hiệu Giá Sơn, người làng Đông Sàng, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội). Lúc nhỏ, Kiều Oánh Mậu có tên là Kiều Dực (hoặc Kiều Hữu Dực), sau lại đổi là Kiều Cung (hoặc Kiều Doãn Cung). Năm 1883, vua Tự Đức chết, đặt miếu hiệu là Dực Tông, vì kiêng miếu húy, ông mới đổi tên là Kiều Cung rồi đổi là Kiều Oánh Mậu.

kieu-oanh-mau.jpg

Theo Kiều thị gia phả (do Kiều Oánh Mậu biên soạn) hiện lưu giữ tại nhà ông Kiều Vĩnh Khánh, cháu 4 đời của Kiều Oánh Mậu thì cụ tổ của họ này là Kiều Phúc (1452 - ? ), đỗ Hoàng giáp khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Hiệu thư. Tiếp sau đó, là các cụ: Kiều Văn Bá đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Tỵ, niên hiệu Hồng Thuận thứ 1 (1509); Kiều Bá Nhiễm, Kiều Trọng Dương đều đỗ Hương cống khoa Ất Mùi (1775), đời Lê Cảnh Hưng.

Thân phụ của Kiều Oánh Mậu là Kiều Đỉnh, đỗ Tú tài khoa Đinh Mão (1867), đỗ Cử nhân Ân khoa Mậu Thìn (1868). Sách Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục chép: “Kiều Đỉnh (cha con cùng thi đậu), đỗ Cử nhân khoa Mậu Thìn (1868), người xã Đông Sàng, huyện Phúc Thọ. Cha Phó bảng Kiều Dực” (Bản dịch, 1993). Dưới thời Tự Đức (1848-1883), Kiều Đỉnh nhiều năm làm Tri huyện các huyện Chân Định, Quỳnh Côi, Phù Dực (tỉnh Thái Bình).

Kiều Oánh Mậu sinh năm Giáp Dần (1854), đỗ Cử nhân khoa Kỷ Mão (1879), năm ấy ông 25 tuổi. Hai năm sau, ông đỗ Phó bảng khoa Canh Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880). Ông đỗ đồng khoa với Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh (1835 - ? ) làm Đốc học Hà Nội, thăng Tế tửu Quốc Tử Giám. Năm ấy, thân phụ của Kiều Oánh Mậu cáo quan về quê dạy học sau 12 năm làm Tri huyện. Sau khi đỗ Phó bảng, Kiều Oánh Mậu được bổ làm Hành tẩu ở Bộ Công trong triều đình Huế. Hai năm sau, 1882, ông được điều ra Bắc làm Tri phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Tháng 12 năm 1883, thực dân Pháp tiến đánh thành Sơn Tây, Kiều Oánh Mậu đã sáng tác bài Ai Sơn thành (Cảm thương thành Sơn Tây) để bày tỏ nỗi lòng của mình. (Bài Ai Sơn thành được Thiết Chi, tức Kiều Tường, con trai của Kiều Oánh Mậu, dịch ra tiếng Việt đăng trên báo Tri Tân số 194, năm 1946). Ngay sau khi ra đời, Ai Sơn thành của Kiều Oánh Mậu được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Bài thơ đã tố cáo tội ác, sự xâm lược của thực dân Pháp, giãi bày nỗi khốn khổ của nhân dân, có tác dụng kích thích lòng yêu nước và ý chí đánh đuổi lũ thực dân cướp nước. Bên cạnh đó, Ai Sơn thành còn lên án thái độ bàng quan, nhu nhược của vua quan triều Nguyễn, trước sự xâm lược của thực dân Pháp. Vì lẽ đó, Kiều Oánh Mậu lập tức bị cách chức và bị buộc phải trở về quê nhà ở Sơn Tây, năm đó (1885), ông mới 31 tuổi.

Năm 1886, Kiều Oánh Mậu được phục chức làm Tri phủ Lý Nhân (Hà Nam). Vài năm sau, năm 1891, ông lại bị giáng làm Tri huyện Vũ Giàng (Bắc Ninh). Sau đó, Kiều Oánh Mậu còn trấn nhậm một số nơi, rồi bỏ ấn từ quan. Sự nghiệp chính trị của ông có thể nói không có gì là đáng kể.

Kiều Oánh Mậu đã dành cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp văn hóa, cụ thể là khảo cứu văn học Việt Nam. Tác phẩm của Kiều Oánh Mậu còn lại là khá phong phú, bao gồm: trước thuật, diễn Nôm, khảo đính, chú giải, đề tựa, đọc duyệt... Cụ thể về trước thuật có: Bản triều bạn nghịch liệt truyện (Truyện những nhân vật phản nghịch của bản triều, tức triều Nguyễn), Giá Sơn di cảo (Bản chữ Hán hiện nay không còn, chỉ còn lại bản phiên âm, dịch nghĩa ra chữ Quốc ngữ, được lưu giữ tại nhà ông Kiều Vĩnh Khánh - gồm các bài ký, bài bàn về hát Ả đào của Kiều Oánh Mậu); về biên soạn có: Kiều thị gia phả; về diễn Nôm có: Hương Sơn Quan Thế Âm chân kinh tân dịch, Tiên phủ dịch lục, Tỳ bà Quốc âm Tân truyện; về khảo đính, chú giải có: Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du; về đề tựa có: Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án; về đọc duyệt có: Bút toán chỉ namToán pháp của Nguyễn Cẩn...

Trong số những tác phẩm trên đây, riêng việc khảo đính lại quyển Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du đã làm cho tên tuổi của ông được nhiều người biết đến. Kiều Oánh Mậu đã căn cứ vào “Bản Kinh” do Đào Nguyên Phổ mang từ Kinh đô Huế ra Hà Nội tặng cho mình vào năm 1898, để đối chiếu với các “Bản Phường” mà khảo đính lại. Trong việc khảo đính ấy, ông đã ghi rõ xuất xứ của một số câu có sự dị đồng giữa các bản: Bản Kinh - Bản Phường - Nguyên tác - Nhất tác - Hoặc tác. Kiều Oánh Mậu lại có công quy phạm hóa chữ Nôm, để cho câu thơ được rõ nghĩa...

Nói riêng về ngọn nguồn và tính chất văn bản Đoạn trường tân thanh, nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn xác định:

“Theo sự đọc của chúng tôi thì người đầu tiên đẻ ra hai khái niệm “bản Kinh” và “bản Phường” chính là Kiều Oánh Mậu. Trong bản Đoạn trường tân thanh do ông khảo đính và cho khắc in năm năm 1902, Kiều Oánh Mậu đã “tung” ra giữa học giới hai khái niệm này mà không một lời “định nghĩa”. Ông không nói rõ “bản Phường” ông dùng là bản in năm nào, chỉ nói là có năm sáu bản khác nhau. Ông cũng không nói rõ “bản Kinh” mà ông có được và muốn nói tới chỉ là bản do bạn ông là Đào Nguyên Phổ mang từ trong Kinh đô Huế ra, tặng ông vào năm 1898...

Vậy đến đây chúng ta đã có cơ sở chắc chắn mà nói rằng: Kiều Oánh Mậu là người đầu tiên đưa thuật ngữ “bản Kinh” với hàm nghĩa xác định: Đó là bản Kiều chép tay của công tử họ ngoại nhà vua, do Đào Nguyên Phổ tặng lại ông vào năm 1898. “Bản Kinh” này có đôi câu đối của Tự Đức; có lời bình của Nguyễn Lượng, Vũ Trinh bằng hai màu mực son và đen phân biệt...

Từ sau khi Đoạn trường tân thanh được Kiều Oánh Mậu cho in và phát hành rộng rãi, hai khái niệm “bản Kinh”, “bản Phường” mà ông dùng nghiễm nhiên được xã hội chấp nhận. Không ai thấy cần thiết phải biện bạch tìm hiểu ngọn nguồn hai khái niệm thuật ngữ văn bản này...

Sau Kiều Oánh Mậu, có thể là do lời giới thiệu rất đại khái về khái niệm “bản Kinh”, “bản Phường” của Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim mà người ta đã “tương truyền” nhau về một “bản Phường đầu tiên” do Phạm Quý Thích đưa in từ sinh thời nguyễn Du và “bản Kinh đầu tiên” do Tự Đức đưa in vào năm 1871, khiến các nhà nghiên cứu đều than tiếc rằng trong tay không có các “bản Kinh”, “bản Phường” đầu tiên ấy; rằng các ông chỉ có thể hình dung diện mạo của “bản Kinh” qua lời chú của Kiều Oánh Mậu...

Hiểu rõ được lai lịch và khái niệm của từng loại văn bản trên đây, chắc tin rằng không có “bản Phường” sớm nhất do Phạm Quý Thích đưa in và “bản Kinh” do Tự Đức đưa in, chúng ta sẽ đỡ đi cái đau đáu thắc thỏm vì cứ trông chờ vào một thứ văn bản in vốn không hề có mà cứ tưởng có mà đã mất, khiến lâu nay nhiều người tưởng rằng có thể xác lập được một văn bản gần với nguyên tác Truyện Kiều (!)” (Tạp chí Văn học, 1998)...

Kiều Oánh Mậu còn công phu tìm đến bản Kim Kiều tình từ (Lời tình tự của Kim và Kiều), tức bản được xem là cổ của dòng họ Nguyễn Tiên Điền, mà ông Nghè Nguyễn Mai (1876-1956) còn giữ được để hoàn tất công việc khảo đính của mình. Khảo đính xong, ông nhờ Đào Nguyên Phổ đề Tựa, và đưa nhà sách Quan Văn đường tàng bản, ấn hành năm 1902. Qua bản khảo đính Truyện Kiều, Kiều Oánh Mậu đáng được xem là nhà khảo chứng văn bản học có uy tín đầu tiên trong văn học cận đại Việt Nam.

Với cương vị người bạn “thanh khí” của Đào Nguyên Phổ, Chủ bút tờ Đại Nam đồng văn nhật báo, cho nên có một thời gian Kiều Oánh Mậu còn làm trợ bút của tờ báo đầu tiên viết bằng chữ Hán xuất hiện ở Hà Nội vào năm 1903 này.

Kiều Oánh Mậu có thể coi là một nhà khoa bảng có tinh thần yêu nước, một tác gia Hán Nôm có nhiều đóng góp với nền văn hóa Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Khánh Dư – danh tướng thủy binh
    Trần Khánh Dư người huyện Chí Linh (Hải Dương), chưa rõ năm sinh, mất năm 1339, dòng dõi tôn thất nên được phong tước Nhân Huệ vương. Khi quân Nguyên mới sang xâm lược nước ta, ông thường nhằm chỗ sơ hở đánh úp, Trần Thánh Tông khen là có chí lược, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Khi đánh dẹp ở miền núi thắng lớn, được phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi từ tước hầu, do được vua yêu, thăng mãi lên Thượng vị hầu áo tía, giữ chức phán thủ. Sau vì tư thông với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, phải lui về ở Chí Linh làm nghề bán than.
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải lưu vực S3, nhà máy xử lý nước thải Phú Đô
    Tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề) ngày 11/5, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải cho lưu vực S3 tại các phường Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Yên Hòa, Phú Diễn, Từ Liêm, Đại Mỗ và Nhà máy xử lý nước thải Phú Đô, Thành phố Hà Nội, theo hình thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT).
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Quốc lộ 1A lên 90m
    Dự án trục không gian Quốc lộ 1A có chiều dài khoảng 36,3km, đoạn từ đường Vành đai 1 đến nút giao Cầu Giẽ, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 162.000 tỷ đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
Kiều Oánh Mậu – nhà khoa bảng yêu nước
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO