Kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật của cán bộ cấp chiến lược qua thực tiễn xây dựng pháp luật

VNHN| 08/02/2020 23:07

Đội ngũ cán bộ cấp chiến lược là những người có bản lĩnh, trí tuệ và có tầm nhìn tiên phát nhằm tham mưu cho Đảng, Nhà nước những vấn đề mang tính định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật là khả năng của cán bộ cấp chiến lược trong việc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề đặt ra trong công tác tham mưu xây dựng chính sách pháp luật. Bài viết giới thiệu về kỹ năng tham mưu, xây dựng chính sách pháp luật của cán bộ cấp chiến lược qu

Kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật của cán bộ cấp chiến lược qua thực tiễn xây dựng pháp luật

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nói về công tác cán bộ. Ảnh: Internet 

1. Kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật

1.1. Về thuật ngữ

Kỹ năng tham mưu (Advisory skill) là sự thông thạo được phát triển thông qua quá trình đào tạo, rèn luyện, vận dụng vào việc xây dựng hoạch định chính sách. Kiến thức (Knowledge) chỉ là sự hiểu biết lý thuyết và thực nghiệm về một chủ đề nào đó (kinh tế, luật học, xây dựng...). Khả năng (Abilities) là những phẩm chất thể hiện khả năng làm một việc gì đó. Ba khái niệm này bổ sung cho nhau, đôi khi sử dụng trong thực tiễn thường đổi chỗ cho nhau. Tuy nhiên, muốn có kỹ năng tham mưu, trước hết cần phải có khả năng và kiến thức nhất định và phải đặt chủ thể có khả năng, kiến thức trong một môi trường công tác nhất định thì hiệu quả của kỹ năng tham mưu sẽ cao hơn (khả năng - kiến thức - kỹ năng).

Trong khoa học quản lý, khái niệm tham mưu chính sách pháp luật còn được xem là việc hiến kế, kiến nghị, đưa ra các ý tưởng, đề xuất các giải pháp khoa học, các sáng kiến, các phương án tối ưu, những dự báo chiến lược, sách lược và các giải pháp hữu hiệu cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Muốn làm được điều đó, cán bộ, công chức phải sử dụng kỹ năng tham mưu bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành (đã được đào tạo, huấn luyện và kinh nghiệm) để thực hiện có hiệu quả hệ thống thao tác đó (từ khả năng, kiến thức khoa học, thực tiễn đã có đến cách trình bày, thuyết trình và vận dụng đúng đắn vào thực tiễn) để thực hiện công vụ, nhiệm vụ được giao.

Do đó, có thể hiểu kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật là năng lực (bao gồm khả năng và kinh nghiệm) của cán bộ, công chức thực hiện thuần thục một quy trình, quy phạm được quy định bởi các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (hoặc pháp luật) bằng cách lựa chọn tri thức, kiến thức đúng đắn, khoa học và vận dụng có hiệu quả vào thực tiễn để đạt được mục đích đề ra.

1.2. Về mối quan hệ giữa đường lối lãnh đạo của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối Nhà nước và xã hội. Đảng và các đảng viên hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Đảng thực hiện đường lối của mình bằng tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối lãnh đạo của mình. Đảng lãnh đạo thông qua đường lối, chủ trương đúng đắn, định hướng cho toàn xã hội trên các phương diện chính trị, kinh tế- văn hóa, xã hội để định hình cho đất nước phát triển. Mọi hoạt động của Nhà nước phải phù hợp với đường lối lãnh đạo của Đảng. Nói cách khác, đường lối lãnh đạo của Đảng là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của Nhà nước và xã hội. Như vậy, có thể khẳng định đường lối lãnh đạo của Đảng là cơ sở, là điều kiện tiên quyết để xây dựng chính sách pháp luật của Nhà nước.

Trong Từ điển tiếng Việt, “chính sách” được hiểu là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…”(1). Một chính sách tốt phải cân bằng giữa yếu tố chủ quan và khách quan và được đo lường, đánh giá bằng sự kiểm nghiệm của thực tế. Nếu chính sách chỉ mang tính chủ quan (ý tưởng) không được kiểm tra bằng thực tiễn (hoặc có tổng kết qua thực tiễn) sẽ khó đi vào đời sống. Ví dụ, chính sách thuế của một đất nước phải căn cứ vào tình trạng kinh tế (sự phát triển của sản xuất, GDP, kim ngạch xuất, nhập khẩu, đời sống người dân…).

Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm chính sách pháp luật. Có quan điểm cho rằng, chính sách pháp luật là tổng thể các quan điểm, chủ trương của nhà nước về việc xây dựng và hoàn thiện (phát triển) hệ thống pháp luật(2) hoặc chính sách trong mối quan hệ với cơ chế là “những chủ trương thích ứng với các đặc điểm và điều kiện kinh tế - xã hội của từng giai đoạn phát triển nhằm vào việc bảo đảm cho sự vận hành đúng hướng, tích cực của cơ chế kinh tế”(3). Có tác giả cho rằng “chính sách pháp luật là hệ thống các quan điểm, lập trường tư tưởng, nguyên tắc hành động, chủ trương định hướng, chương trình và biện pháp hành động của nhà nước trong việc xác định vai trò và hướng điều chỉnh của pháp luật trong từng giai đoạn hoặc thời kỳ phát triển của đất nước, làm căn cứ và cơ sở để xây dựng pháp luật vào cuộc sống và duy trì hiệu lực pháp luật trong giai đoạn hoặc thời kỳ đó”(4).

Như vậy, chính sách pháp luật có thể hiểu là chính sách về pháp luật. Theo nghĩa này, để xây dựng pháp luật, trước hết phải có chính sách (bao gồm quan điểm, chủ trương, định hướng và thước đo hiệu quả của pháp luật hiện hành và trong tương lai) theo nhận thức của từng chủ thể thích ứng với từng giai đoạn phát triển cụ thể. Ở một nghĩa khác, chính sách pháp luật không chỉ là linh hồn, là căn cứ, là cơ sở để xây dựng pháp luật, xác định nội dung của pháp luật, mà chính sách pháp luật có thể là pháp luật (Hiến pháp - đạo luật cơ bản là cơ sở để xây dựng các đạo luật); chính sách pháp luật có thể là cơ sở để xây dựng các chính sách khác(5).Chính sách pháp luật được triển khai bởi hoạt động của chủ thể có thẩm quyền trong việc thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng thông qua hoạt động xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật.

Chính sách pháp luật (dù hiểu dưới góc độ nào) cũng là để thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các chủ trương, chính sách lớn, lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách pháp luật”(6). Để thể chế hóa đường lối của Đảng, chính sách pháp luật bị chế ước bởi đường lối của Đảng, nhưng đồng thời tác động trở lại, góp phần điều chỉnh hợp lý đường lối của Đảng trong từng giai đoạn của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình thể chế hóa đó, chính sách pháp luật phản ánh và bảo vệ đường lối của Đảng. Một đường lối không thể coi là có hiệu quả, đủ sức đi vào đời sống thực tiễn nếu thiếu chính sách pháp luật - như một giới hạn, một tác nhân điều chỉnh. Cũng như vậy, trong hoạt động của hệ thống chính trị, sự cần thiết, tính hiệu quả của chính sách pháp luật sẽ nhanh chóng biến thành mặt trái ngược và có nguy cơ biến dạng nếu đường lối của Đảng không thật sự khách quan, khoa học và cách mạng, không lấy chính sách pháp luật làm công cụ thiết yếu để đưa đường lối đó vào cuộc sống. Như vậy, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật có mối liên hệ hữu cơ với nhau, vừa là điều kiện, tiền đề, vừa là hệ quả của nhau.

Trong các cơ quan Chính phủ hiện nay, chính sách pháp luật được hiểu rất rộng, từ đề xuất, xây dựng, thực thi, đến đánh giá, kiểm tra chính sách pháp luật. Một điều đáng chú ý là từ quy trình trên, các bộ, ngành và các cơ quan có liên quan có thể tổng kết thực tiễn, rà soát lại hệ thống chính sách pháp luật và loại bỏ những bất cập, tiếp thu hoàn thiện những mặt tích cực cho việc xây dựng chính sách pháp luật mới phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng ngành, lĩnh vực.

2. Nguyên tắc và quy trình thực hiện kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật

2.1. Nguyên tắc

Thứ nhất, Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối trong hoạt động của của hệ thống chính trị. Nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động công vụ và tham mưu chính sách pháp luật phải phù hợp với đường lối lãnh đạo của Đảng.

Thứ hai, phân định thẩm quyền giữa các cơ quan, người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước trong quá trình tham mưu xây dựng chính sách pháp luật. Nguyên tắc này hướng tới việc minh bạch hóa hệ thống cơ quan nhà nước trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng chủ thể. Trong Chính phủ, làm rõ thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng, các thành viên Chính phủ (thẩm quyền tập thể và cá nhân); tương tự là với các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp. Đây cũng là việc thực hiện nghiêm túc thẩm cấp của một nền hành chính mà cán bộ, công chức khi tham mưu cần nắm vững (chuyên viên tham mưu cho cấp vụ; cấp vụ tham mưu cho bộ trưởng; bộ trưởng tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng). Chính quyền địa phương cũng phải có kỹ năng tham mưu theo thẩm cấp. Nguyên tắc này cũng là sự cụ thể hóa một luận điểm quan trọng của khoa học quản lý: “Mỗi việc cần được giải quyết dứt điểm ở một cấp” và “mỗi người cần làm công việc của chính mình”; vì vậy cần phải lựa chọn và bố trí người có khả năng tham mưu giỏi, có khả năng dự báo chính sách pháp luật.

Thứ ba, khách quan, khoa học, chống lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm trong quá trình tham mưu xây dựng chính sách pháp luật.

Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng, cán bộ, công chức khi tham mưu, nếu đặt lợi ích chung của đất nước, dân tộc làm mục tiêu của hoạt động công vụ thì khả năng phát triển hài hòa, đồng bộ kinh tế - xã hội sẽ có hiệu quả, bền vững; ngược lại, nếu vì cục bộ địa phương, ngành hoặc lợi ích nhóm, hiệu quả sẽ không cao và hạn chế tính bền vững của chính sách pháp luật.

Thứ tư, kỹ năng phối hợp trong tham mưu xây dựng chính sách pháp luật.

Xây dựng chính sách pháp luật là sự huy động trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính trị. Một ý tưởng sáng tạo khó có thể được thực hiện khi không có sự phối hợp chặt chẽ, cùng vào cuộc của đội ngũ tham mưu tại các cơ quan, tổ chức. Quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định chặt chẽ nhưng hiệu quả chưa cao, bởi lẽ việc phối hợp còn gặp rào cản bởi chính các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình lấy ý kiến phản biện, thẩm định, thẩm tra hoặc trong quá trình thực hiện và kiểm tra việc thực hiện pháp luật. Quan niệm bộ, ngành nào tham mưu, xây dựng, trình chính sách pháp luật, bộ, ngành đó tự chịu trách nhiệm đã dẫn đến tình trạng trên.

Phối hợp trong xây dựng chính sách pháp luật là một phương thức của quản lý. Một chính sách pháp luật ra đời là kết quả hoạt động của cả bộ máy “chính sách pháp luật là sự đánh giá cao của tính sáng tạo trong quá trình phối, kết hợp liên ngành của nền hành chính phát triển, là sự phủ nhận những ý tưởng đen tối của các cá nhân không biết đặt lợi ích của mình xuống dưới lợi ích chung”(7).

Thứ năm, nguyên tắc trách nhiệm của người làm công tác tham mưu xây dựng chính sách pháp luật.

Nguyên tắc này đòi hỏi người có nhiệm vụ tham mưu phải chịu trách nhiệm trước kết quả tham mưu của mình. Ngoài việc sử dụng khả năng, kiến thức để tham mưu, bản lĩnh trong tham mưu, người làm công tác tham mưu phải chịu trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý trong hoạt động xây dựng chính sách pháp luật. Phải xác định ai chịu trách nhiệm chính trong việc tham mưu để chính sách pháp luật ban hành chậm hoặc gây ra những hậu quả tiêu cực trong hoạt động quản lý. Hiện nay đã có quy chế làm việc của các bộ, ngành, của Chính phủ, nhưng chỉ là trình tự, thủ tục trình các dự án, văn bản mà chưa quy định rõ trách nhiệm của người làm công tác tham mưu xây dựng chính sách.

Thứ sáu, sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học trong quá trình đề xuất xây dựng chính sách pháp luật và thực thi pháp luật.

Kết quả tham mưu chính sách pháp luật của bất kỳ cơ quan quản lý nào cũng cần mang tính khoa học, sáng tạo. Tính khoa học thể hiện ở chỗ, những vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải có sự tương hỗ lẫn nhau. Lý luận có thể đi trước hoặc sau tổng kết thực tiễn, nhưng các ý tưởng tham mưu cần phải có sự bổ sung cho nhau về mặt lý luận và thực tiễn thông qua việc ứng dụng các công trình nghiên cứu khoa học. Phản biện khoa học của các chuyên gia, nhà khoa học góp phần cung cấp thông tin khoa học khi tham mưu, đặc biệt là quá trình đánh giá tác động của chính sách pháp luật. Quá trình lấy ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học vừa là dự liệu các phương án khác nhau khi xây dựng, vừa là sự kiểm nghiệm tính ổn định khả thi của chính sách pháp luật trong quá trình thực thi.

2.2. Quy trình thực hiện kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật

Một là, ý tưởng xây dựng chính sách pháp luật.

Đây là giai đoạn tiền đề mà người làm công tác tham mưu cần nhận rõ. Ý tưởng có thể xuất hiện trong quá trình quản lý, điều hành kinh tế - xã hội của chủ thể có thẩm quyền, chẳng hạn ý tưởng về phát triển thương mại quốc tế của Việt Nam trong điều kiện cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang diễn ra. Chủ thể tham mưu có thể là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nhưng cũng có thể chính là người làm công tác tham mưu. Ý tưởng này phải căn cứ vào cơ sở chính trị, khoa học và pháp lý để phân tích, tham mưu cho cấp có thẩm quyền quyết định.

Hai là, phân tích chính sách pháp luật.

Giai đoạn này đòi hỏi chủ thể tham mưu phải xem xét chính sách pháp luật ở nhiều góc độ, từ tính phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, tính hợp lý của chính sách pháp luật, tính thời sự cấp bách, tính khả thi, tính dự báo hiệu quả chính sách pháp luật đến thời điểm có hiệu lực của chính sách pháp luật khi được ban hành. Việc phân tích chính sách pháp luật bao gồm: xác định rõ mục đích, yêu cầu của việc ban hành chính sách pháp luật; xây dựng kế hoạch nghiên cứu; thu thập tài liệu; lấy ý kiến chuyên gia, các nhà khoa học; khảo sát thực tiễn; xử lý tài liệu, thu thập; phân tích chính sách; đưa ra ý kiến về phân tích chính sách. Lưu ý, khi phân tích chính sách cần loại bỏ ý chí chủ quan và đưa ra các phương án thực hiện chính sách pháp luật (nếu có) và phải có lập luận cho từng phương án để trình cơ quan, người có thẩm quyền.

Ba là, lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan đến chính sách pháp luật.

Tùy theo phạm vi chính sách pháp luật do chủ thể tham mưu đề xuất, cơ quan, người có thẩm quyền phải chủ động (hoặc theo đề xuất của người tham mưu chính sách pháp luật) phải gửi lại dự thảo chính sách đến các cơ quan có liên quan, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp chịu sự tác động của chính sách pháp luật (có thể gửi lấy ý kiến, tổ chức hội thảo, hội nghị chuyên đề về nội dung chính sách pháp luật); đồng thời đề xuất việc tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến vào dự thảo chính sách pháp luật. Ý kiến tham gia góp ý phải được người làm công tác tham mưu nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo chính sách pháp luật.

Bốn là, đánh giá tác động của chính sách pháp luật.

Chủ thể làm công tác tham mưu xây dựng chính sách pháp luật phải tiến hành đánh giá tác động trong từng chính sách pháp luật. Nội dung đánh giá tác động của chính sách pháp luật phải đưa ra: vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách pháp luật; các giải pháp thực hiện chính sách pháp luật; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn các giải pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và lý do của việc lựa chọn; đánh giá tác động thủ tục hành chính; tác động về bình đẳng giới (nếu có).

Năm là, tổ chức lấy ý kiến phản biện việc xây dựng chính sách pháp luật.

Tùy theo từng ý kiến tham mưu xây dựng chính sách pháp luật, chủ thể tham mưu có thể tổ chức lấy ý kiến phản biện của các chuyên gia, các nhà chuyên môn có liên quan đến chủ đề tham mưu. Khác với lấy ý kiến nhân dân và đối tượng, thủ tục phản biện chính sách pháp luật thường được tổ chức hẹp, các ý kiến cần nói rõ, cụ thể ưu điểm và hạn chế của dự thảo chính sách pháp luật. Đây là kênh nhằm nâng cao tính khoa học, tính thực tiễn của chính sách pháp luật. Các nhà khoa học, giới chuyên môn có thể đưa ra các luận cứ và phương án khác nhau để chủ thể nghiên cứu, tiếp thu, báo cáo người có thẩm quyền. Phạm vi phản biện đi sâu vào ý tưởng và các nội dung quan trọng của chính sách pháp luật. Về lý thuyết, sử dụng công cụ trong khoa học chính sách công và khoa học quản lý tiên tiến. Về thực tiễn, vận dụng các quy luật đã và đang tồn tại trong đời sống xã hội hiện nay.

Sáu là, xây dựng dự thảo văn bản chính sách pháp luật.

Từ ý tưởng đến quy trình nêu trên được chủ thể tham mưu xây dựng thành dự thảo văn bản hoặc các cơ quan giao cho tổ chức, cá nhân khác xây dựng, hình thành văn bản hoặc một cơ quan chủ trì có sự phối hợp của các bộ, ngành liên quan. Các ý kiến tham mưu xây dựng chính sách đều được thể hiện bằng dự thảo và được trình theo quy chế làm việc của các cơ quan, tổ chức (trừ trường hợp theo yêu cầu trực tiếp của cơ quan, người có thẩm quyền).

Tuy nhiên, theo trách nhiệm công vụ, chủ thể tham mưu xây dựng chính sách pháp luật vẫn phải báo cáo cấp trên trực tiếp của mình (chẳng hạn, Thủ tướng yêu cầu một chuyên viên cao cấp hoặc thứ trưởng, bộ trưởng của một bộ, tham mưu về một chính sách pháp luật nào đó thì khi thực hiện phải báo cáo các cấp hành chính mà mình là thành viên (vụ trưởng, bộ trưởng). Đối với việc giao cho tập thể thực hiện (bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) thì bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải tiến hành các thủ tục nêu trên. Ủy ban nhân dân các cấp cũng thực hiện quy trình này.

Bảy là, thẩm định, thẩm tra chính sách pháp luật.

Thẩm định, thẩm tra là việc đánh giá toàn diện nội dung chính sách pháp luật xem có phù hợp với mục đích, yêu cầu, phạm vi điều chỉnh; tính hợp hiến, hợp pháp và chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính (nếu có); tính hợp lý, khả thi; nguồn tài chính, nhân lực để thực hiện; ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự soạn thảo chính sách pháp luật (lưu ý, theo thẩm quyền của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các hình thức văn bản được quy định chặt chẽ; riêng đối với văn bản khác, chủ thể tham mưu xây dựng chính sách pháp luật có thể vận dụng linh hoạt các nội dung của thẩm định, thẩm tra để áp dụng vào quá trình tham mưu).

Tám là, trình ý kiến tham mưu xây dựng chính sách pháp luật.

Sau khi các thủ tục đã được hoàn tất, chủ thể tham mưu soạn thảo chính thức văn bản trình cấp có thẩm quyền. Nội dung trình, ngoài dự thảo cần cung cấp đầy đủ ý kiến của các cơ quan, tổ chức có liên quan, các ý kiến phản biện và các phương án khác nhau; thuyết trình phương án và bảo vệ phương án (độc lập - chịu trách nhiệm về phương án do mình tham mưu). Theo thủ tục pháp luật hiện hành, chủ thể tham mưu tiến hành trình văn bản quy phạm pháp luật theo các yêu cầu của luật. Riêng các loại văn bản khác chưa được luật quy định thì tuân thủ quy chế làm việc của cơ quan, tổ chức hoặc xin ý kiến trực tiếp của người phụ trách hoặc lãnh đạo cơ quan, tổ chức.

Chín là, ban hành và kiểm tra thực hiện chính sách pháp luật.

Chính sách pháp luật sau khi được thông qua sẽ được ban hành theo thủ tục hành chính đến công chúng hoặc các đối tượng chịu sự tác động bằng hình thức văn bản do pháp luật quy định. Để chính sách pháp luật được thực thi hiệu quả, chủ thể tham mưu phải thường xuyên theo dõi và kiểm tra tính khả thi của chính sách pháp luật. Đối với văn bản quy phạm pháp luật, Chương XV của Luật ban hành quy phạm pháp luật năm 2015 quy định rất rõ các chủ thể tham gia giám sát, kiểm tra theo nội dung các Điều 162-167. Tuy nhiên, chính sách pháp luật mà chủ thể tham mưu dưới hình thức văn bản khác hiện chưa có quy định cụ thể. Vì vậy, chủ thể tham mưu xây dựng chính sách pháp luật phải trực tiếp theo dõi, kiểm tra việc thực thi chính sách pháp luật đó và kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền về tính khả thi (sự đồng ý hoặc phản ứng của xã hội); thời gian thực hiện (đối với các chính sách pháp luật về thí điểm khi chưa có pháp luật quy định); sự chồng chéo của hệ thống pháp luật; sự phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn ảnh hưởng đến chính sách pháp luật… và kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc đình chỉ, hủy bỏ chính sách pháp luật; đề xuất các biện pháp khắc phục và đề nghị xử lý cơ quan, người thực thi chính sách pháp luật có sai phạm. Nếu chính sách pháp luật có mức độ sai phạm nghiêm trọng, chủ thể tham mưu chính sách pháp luật cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật tùy theo mức độ vi phạm của chủ thể đó.

3. Một số kiến nghị nâng cao kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật

Một là, đổi mới tư duy về kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật. Quán triệt quan điểm của Đảng về đổi mới công tác cán bộ, trong đó có cán bộ tham mưu cấp chiến lược, mỗi ngành, mỗi cấp phải triển khai tư duy đổi mới của Đảng về tính cấp thiết phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển lý luận nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay; kiến tạo lý luận xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; lý luận về hội nhập quốc tế; nhận diện nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc để tạo tư duy khoa học - cách mạng cho những người làm công tác tham mưu chính sách pháp luật. Tham mưu chính sách pháp luật giữ vai trò hết sức quan trọng, mỗi chính sách pháp luật là nền tảng, là tiền đề định hướng cho sự phát triển; thể hiện năng lực tư duy biện chứng cho sự phát triển, là thước đo năng lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Hai là, xây dựng đội ngũ tham mưu xây dựng chính sách pháp luật phải giỏi về chuyên môn, kỹ năng, kiến thức và khả năng đáp ứng nhanh nhạy với các diễn biến phức tạp trên thế giới và sự phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực, đồng thời có phẩm chất chính trị tốt để triển khai, cụ thể hóa quan điểm của Đảng và nhà nước. Nâng cao trình độ, kỹ năng trên 4 phương diện: 1) Kiến thức chuyên môn; 2) Khả năng, sự hiểu biết (tầm nhìn) chiến lược; 3) Dự báo chiến lược tình hình kinh tế - xã hội; 4) Kiểm soát được việc thực thi chính sách pháp luật. Cần tăng cường mở các lớp bồi dưỡng, đào tạo ngắn hoặc dài hạn cho chủ thể làm công tác tham mưu nâng cao kỹ năng xây dựng chính sách pháp luật; biên soạn tài liệu về kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật để đưa vào chương trình chính khóa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.

Ba là, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ nói chung, trong công tác tham mưu chính sách pháp luật nói riêng. Trách nhiệm trước Tổ quốc, trước nhân dân về công tác tham mưu xây dựng chính sách pháp luật; trách nhiệm pháp lý về sản phẩm tham mưu trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền (được kiểm nghiệm bằng thực tiễn tham mưu như hiệu quả tích cực và hệ quả tiêu cực của chính sách); chống mọi biểu hiện cục bộ ngành, địa phương, lợi ích nhóm, “sân sau” trong quá trình tham mưu. Mặt khác, nêu cao tính khách quan, minh bạch trong quá trình tham mưu để làm tiền đề cho phát huy dân chủ trong các quyết định quản lý, phát huy trí tuệ tập thể, góp phần nâng cao chất lượng tham mưu chính sách pháp luật.

Bốn là, tăng cường cơ chế phối hợp giữa các chủ thể tham gia xây dựng chính sách pháp luật để mỗi chính sách pháp luật khi được ban hành thật sự thể chế hóa đúng đắn đường lối lãnh đạo của Đảng, lợi ích kinh tế - xã hội của đất nước, của dân tộc; đồng thời, là sự phản ánh khách quan các khía cạnh của đời sống quản lý trong quá trình phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, cần xác định rõ chủ thể chủ trì và các chủ thể tham gia; quy định trách nhiệm của từng chủ thể và hậu quả pháp lý khi chính sách pháp luật không hợp pháp và không có hiệu quả trong thực tiễn; đồng thời, khen thưởng kịp thời, thích đáng những thành tích xuất sắc trong tham mưu xây dựng chính sách pháp luật.

Năm là, Chính phủ cần ban hành văn bản quy định chi tiết về kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật. Trong đó, có các nội dung: từ ý tưởng tham mưu, kỹ năng tham mưu, quy trình thủ tục, chất lượng cán bộ, công chức làm công tác tham mưu, khen thưởng, kỷ luật đến việc thu hút nhân tài và trách nhiệm pháp lý đối với người làm công tác tham mưu chính sách pháp luật. Bởi lẽ, công tác tham mưu chính sách pháp luật rất đa dạng, thể hiện dưới nhiều hình thức; các quy định hiện nay còn thiếu, nếu có thì nằm rải rác ở các quy chế làm việc hoặc chưa thống nhất. Đây là việc cần làm ngay nhằm đáp ứng yêu cầu “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủnăng lực và phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ…”(8) như Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XII của Đảng đã đề ra./.

--------------------------

Ghi chú:

(1) Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học ấn hành 1997, tr.157.

(2) Trần Thái Dương, Xây dựng chính sách pháp luật theo quan điểm bền vững, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 02/2009, tr.3

(3) Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Lê Anh, Mối quan hệ hữu cơ giữa thể chế, cơ chế, chính sách, cơ chế điều hành và hành vi ứng xử, Tạp chí Hội nhập và Phát triển, số 22, tháng 5/2015, tr.5.

(4),(5) Nguyễn Đức Minh, Bàn về khái niệm chính sách pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2017.

(6),(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.214, tr.432.

(7) Quy chế phối hợp công tác của Chính phủ liên bang, Công báo Văn phòng Thủ tướng CHLB Đức, 1980, số 132, tr.567 (tiếng Đức).

TS Phạm Tuấn Khải

Nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ;

Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ

https://vietnamhoinhap.vn/article/ky-nang-tham-muu-xay-dung-chinh-sach-phap-luat-cua-can-bo-cap-chien-luoc-qua-thuc-tien-xay-dung-phap-luat---n-26862

(0) Bình luận
  • Bố trí các điểm trông giữ xe tại Lễ hội Sen Hà Nội 2026
    Lễ hội Sen Hà Nội 2026 diễn ra từ ngày 26 đến 28/6/2026 tại khu vực hồ Tây, là sự kiện văn hóa - du lịch trọng điểm nhằm tôn vinh nét đẹp hoa sen và quảng bá bản sắc Thăng Long – Hà Nội.
  • Dấu ấn nhiệm kỳ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa XII (Bài 2)
    Giai đoạn 2022 – 2026, triển khai nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa XII, các cấp đoàn đã chuyển hóa những nội dung trong nghị quyết Đại hội thành hành động cụ thể và đạt được nhiều kết quả nổi bật.
  • Ra mắt Liên Chi hội Nhà báo Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội
    Ngày 17/6, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tổ chức Lễ công bố Quyết định và ra mắt Liên Chi hội Nhà báo Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội và các Chi hội trực thuộc.
  • Các thành phố ASEAN cùng xây dựng cộng đồng ASEAN tự cường, bền vững
    Đó là phát biểu của Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại phiên khai mạc Hội nghị lãnh đạo các Thành phố ASEAN diễn ra chiều 8/6 tại Hà Nội. Hội nghị do UBND Thành phố Hà Nội chủ trì.
  • Hà Nội cho thấy quan hệ cấp địa phương là nền tảng vững chắc cho quan hệ cấp quốc gia
    Tại Hội nghị lãnh đạo các Thành phố ASEAN diễn ra chiều 8/6 do UBND Thành phố Hà Nội chủ trì tổ chức, đồng chí Nguyễn Mạnh Cường - Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, chia sẻ: “Hà Nội đã thiết lập mối quan hệ hợp tác với hơn 100 Thủ đô, thành phố trên thế giới, trong đó có nhiều thành phố ASEAN. Hà Nội cho thấy quan hệ cấp địa phương là nền tảng vững chắc cho quan hệ cấp quốc gia”.
  • Lễ tôn vinh “Thương hiệu Vàng Chất lượng Quốc tế 2026”
    Ngày 24/05/2025, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế – Văn phòng Chính phủ (11 Lê Hồng Phong, Ba Đình, Hà Nội), Diễn đàn “Phát triển Kinh tế, Đổi mới sáng tạo, Chống hàng giả và Phát triển thương hiệu uy tín bền vững năm 2026” kết hợp Lễ Biểu dương “Thương hiệu Vàng Chất lượng Quốc tế 2026” – Lần thứ VII đã được tổ chức long trọng với sự tham dự của đông đảo lãnh đạo, chuyên gia, doanh nhân và đại diện cộng đồng doanh nghiệp trên cả nước.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • Chiếu miễn phí bộ phim tài liệu “Đất tổ quê cha” nhân Ngày Gia đình Việt Nam
    Buổi chiếu phim sẽ chính thức diễn ra vào lúc 15h00, Chủ nhật ngày 28/06/2026 tại Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, số 465 Hoàng Hoa Thám, Ngọc Hà, Hà Nội.
  • Hấp dẫn chuỗi hoạt động tại Lễ hội Sen Hà Nội 2026
    Diễn ra từ ngày 26 đến 28/6 tại nhiều không gian văn hóa quanh hồ Tây, Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026 được tổ chức với nhiều hoạt động đặc sắc nhằm tôn vinh vẻ đẹp của hoa sen trong đời sống văn hóa Việt, quảng bá giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Đồng thời sự kiện giới thiệu những sản phẩm du lịch, văn hóa và sáng tạo gắn với sen tới người dân, du khách trong nước và quốc tế.
  • Ngày văn hóa Việt Nam tại Hà Nội năm 2026: Tôn vinh di sản, khơi nguồn sáng tạo Thủ đô
    “Ngày văn hóa Việt Nam tại Hà Nội” năm 2026 diễn ra từ ngày 21 đến 24/11/2026 tại khu vực hồ Hoàn Kiếm nhằm tôn vinh, quảng bá các giá trị di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội. Lễ khai mạc được tổ chức hoành tráng với quy mô gần 4.000 người tham gia diễu hành hành trình qua 3 chương nghệ thuật đặc sắc. Xuyên suốt bốn ngày hội, công chúng sẽ được hòa mình vào không gian nghệ thuật đa sắc màu tại ba sân khấu phụ và mãn nhãn với màn trình diễn ánh sáng công nghệ 3D mapping tại Tháp Rùa. Bên cạnh đó, hệ thống triển lãm ứng dụng công nghệ thực tế ảo cùng các khu vực ẩm thực, mua sắm...
  • Màu thời gian
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Màu thời gian của tác giả Nguyễn Đình Xuân.
  • Nhà hát Hồ Gươm đón dàn nghệ sĩ quốc tế danh tiếng trong đêm nhạc "Frozen Fire"
    Vào tối ngày 26/6, tại Nhà hát Hồ Gươm sẽ diễn ra chương trình hòa nhạc đặc biệt mang tên "Frozen Fire". Đêm diễn quy tụ những tên tuổi nghệ sĩ quốc tế danh tiếng, nổi bật là nhạc trưởng người Phần Lan Kalle Kuusava cùng nữ nghệ sĩ violin tài năng Sara Dragan đến từ Ba Lan, kết hợp với các nghệ sĩ tài hoa của Dàn nhạc Giao hưởng Hà Nội (Hanoi Philharmonic Orchestra). Đây là cơ hội hiếm có để công chúng yêu nhạc cổ điển Thủ đô trực tiếp thưởng lãm những kiệt tác giao hưởng kinh điển của châu Âu cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ngay trên sân khấu hiện đại bậc nhất Việt Nam.
  • Hà Nội ban hành Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô
    Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô Hà Nội vừa chính thức ban hành Quy chế làm việc, tạo cơ sở để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối và giám sát việc triển khai các chủ trương, nhiệm vụ phát triển văn hóa trên địa bàn Thành phố; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng và phát triển văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Xã Hồng Vân phổ biến Luật Thủ đô năm 2026 tới cán bộ, Nhân dân
    Nhằm lan tỏa các nội dung của Luật Thủ đô năm 2026, UBND xã Hồng Vân (TP Hà Nội) đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến, tập huấn và bồi dưỡng Luật Thủ đô năm 2026 và các văn bản hướng dẫn thi hành tới các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động các cơ quan, đơn vị, đại diện các thôn, tổ dân phố trên địa bàn xã.
  • Nhìn lại một thời của Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn
    Ngày 20/6, tại Hà Nội đã diễn ra tọa đàm nghệ thuật “Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn trước năm 1975: Một thời nhớ lại” do A&V Foundation tổ chức. Thông qua những chia sẻ của họa sĩ Trịnh Cung cùng phần trao đổi với nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng và các khách mời, tọa đàm đã góp phần nhận diện rõ hơn quá trình hình thành, phát triển của Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn cũng như những giá trị nghệ thuật mà thế hệ họa sĩ này để lại cho mỹ thuật Việt Nam.
  • Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt
    Chiều 20/6/2026, NXB Kim Đồng phối hợp cùng Học viện đào tạo Truyện tranh Comicola Academy và Cộng đồng họa sĩ truyện tranh Việt Nam PunkgaMe tổ chức tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt” và workshop “Quy trình chuyển thể tác phẩm văn học sang truyện tranh”. Tham dự sự kiện có đông đảo biên tập viên, họa sĩ chuyên nghiệp, các bạn trẻ đam mê sáng tác truyện tranh và độc giả yêu thích truyện tranh.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Như là huyền thoại (Kỳ 2)
    Trong nhóm kỹ thuật được lãnh đạo sở địa chất quyết định cho đi khảo sát vùng đất địa đầu Tổ quốc có ba người. Nhận nhiệm vụ, xuất hành từ phố cổ Phạm Ngũ Lão, gần nhà Bác Cổ rồi đi qua cầu Long Biên là ngược chiều lên phía Bắc. Đi tới bốn ngày đường, ba chàng địa chất mới tới phố núi Hà Giang...
Kỹ năng tham mưu xây dựng chính sách pháp luật của cán bộ cấp chiến lược qua thực tiễn xây dựng pháp luật
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO