Hà Nội xưa - nay

Ký ức Hà Nội thời bao cấp qua di sản kiến trúc

Phương Thúy 11:44 15/11/2024

Lịch sử đô thị Hà Nội có tầng tầng, lớp lớp các công trình kiến trúc được chia thành nhiều giai đoạn. Nếu như các công trình kiến trúc Pháp là minh chứng cho bước đầu du nhập văn minh phương Tây thì những công trình mang phong cách kiến trúc Đông Dương lại là sự kết hợp độc đáo giữa văn hóa phương Đông và phương Tây. Những công trình kiến trúc thời kì 1954 - 1986 đã thể hiện một tiếng nói mới, có sự kế thừa, học hỏi và sáng tạo, mang bản sắc kiến trúc Việt Nam, góp phần kiến tạo xã hội trong tâm thế một dân tộc được làm chủ vận mệnh của mình.

ban-sao-cua-thi-diem-lap-ghep-nha-o-khu-truong-dinh-1971-.jpg
Bản sao của Thí điểm lắp ghép nhà ở khu Trương Định (1971)

Từ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chung tay kiến thiết, tập trung sản xuất chi viện cho miền Nam. Trong không khí thời kì phát triển mới của Thủ đô và đất nước, nhiều công trình kiến trúc được xây dựng. Giai đoạn 1954 - 1986, Hà Nội bắt đầu xuất hiện kiến trúc xã hội chủ nghĩa ở một số công trình do Liên Xô viện trợ xây dựng, bao gồm: công trình công cộng (trụ sở cơ quan, trường học, công viên, cung lao động, cung thiếu nhi); công trình nhà tập thể (Kim Liên, Nguyễn Công Trứ, Giảng Võ, Trung Tự, Khương Thượng); công trình công nghiệp (nhà máy cơ khí, bóng đèn, phích nước, cao su, xà phòng, thuốc lá, dệt may, bánh kẹo, đường, vật liệu xây dựng).

Từ 1954 - 1965, thế hệ kiến trúc sư thứ nhất của Việt Nam chỉ học trong nước (trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương). Bước sang những năm 1973 - 1986, thế hệ kiến trúc sư thứ 2 của Việt Nam được hình thành với nền tảng tốt nghiệp trong và ngoài nước, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Phong cách xã hội chủ nghĩa thời kỳ này có mối liên hệ với kiến trúc xã hội chủ nghĩa Đông Âu, thể hiện rõ ở những mặt bằng, hình khối đa dạng và sinh động; bố cục điểm - tuyến - diện - khối; cho phép giải phóng không gian tầng 1. Trong các công trình cũng có những bức tường hoa gió và được làm chắn nắng trên mặt đứng.

cum-cong-nghiep-cao-xa-la-thoi-diem-moi-khanh-thanh.jpg
Cụm công nghiệp Cao Xà Lá thời điểm mới khánh thành

Nói về giá trị của kiến trúc thời bao cấp, KTS Vũ Hiệp - giảng viên Trường Đại học Giao thông vận tải phân tích: “Những giá trị có thể nhìn thấy rõ là sự thẩm mỹ, khoa học và công năng. Cụ thể hơn thì các công trình được tạo hình theo nguyên lý kiến trúc hiện đại; hạn chế chi tiết trang trí, đưa công nghệ bê tông vào xây dựng và giải pháp sinh khí hậu trong thiết kế; sử dụng rất chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả cao nhất trong điều kiện kinh tế eo hẹp. Ngoài ra, những giá trị khác là kiến trúc thời kỳ này đã củng cố bản sắc kiến trúc Việt Nam, góp phần kiến tạo xã hội, là biểu tượng cho một đất nước độc lập, thoát khỏi ách đô hộ thực dân cũng như bước vào hòa giải dân tộc (giai đoạn sau 1975)”.

So với năm 1954, Hà Nội có những bước tiến đáng kể. Trong bối cảnh không gian đô thị mở rộng, phát triển theo quy hoạch tổng thể, có rất nhiều công trình quy mô lớn, đa dạng và phong phú về thể loại, phong cách. Là một phần trong lực lượng kiến trúc sư giai đoạn này, KTS Trần Thanh Bình chịu trách nhiệm thiết kế các công trình: Trụ sở Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (sau này là Bộ Giáo dục và Đào tạo), Trung tâm hóa vật liệu hạt nhân (sau này là Viện công nghệ Xạ hiếm), Trường Đại học Giao thông vận tải, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Học viện Âm nhạc Quốc gia... Ông nhớ lại: “Tinh thần chiến thắng giặc Mỹ của cả dân tộc đang phơi phới nên tâm thế phải xây dựng đất nước to đẹp hơn, đàng hoàng hơn cũng được thể hiện trong thiết kế. Phương châm thiết kế của thời kỳ này bao gồm: thích dụng, bền vững, kinh tế; phải đẹp và phải ở trong điều kiện có thể về kinh phí hạn hẹp, tiêu chuẩn thiết kế thấp (ở ngưỡng tối thiểu)”.

Thời kỳ này cũng có rất nhiều những kiến trúc công trình công cộng quy mô, đa dạng, phong phú về thể loại và phong cách đã ra đời như: Cung văn hóa hữu nghị Việt Xô (khởi công năm 1978), Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (khởi công năm 1973), Khách sạn Thắng Lợi (khởi công năm 1973)… Với kiến trúc nhà ở, đây cũng là bước phát triển đoạn tuyệt với nhà ở “ký túc xá”, “công xã” và chuyển hẳn sang căn hộ khép kín. Hà Nội được nhận diện với những mẫu nhà lắp ghép với các cấu trúc căn hộ mới. Điều đặc biệt nhất là những công trình luôn hướng tới phong cách hiện đại ở hình khối và tính bản địa, phù hợp với điều kiện khí hậu.
Nhưng bên cạnh những công trình, ước mơ và khát vọng của những kiến trúc sư trong bối cảnh khắc nghiệt cũng cần được nhắc tới trong di sản kiến trúc thời bao cấp. Bởi đối mặt với những khó khăn về tình hình kinh tế và xã hội, vật liệu, không gian sáng tạo, sự giao lưu tri thức nhưng những kiến trúc sư vẫn luôn có khát vọng vươn lên để xây dựng một đất nước hiện đại, xây dựng một xã hội mới qua kiến trúc, mang lại cuộc sống tốt đẹp, thoải mái nhất cho người dân. Một trong những câu chuyện thể hiện rõ nét nhất là “cuộc cách mạng bếp - xí - tắm”.

cung-thieu-thi-ha-noi-thoi-diem-moi-xay-dung..jpg
Cung Thiếu thi Hà Nội thời điểm mới xây dựng.

Thời bao cấp, chỉ có cán bộ cấp trung (cấp cục trưởng) mới được phân 1 căn hộ 2 phòng, cán bộ cấp cao (cấp thứ trưởng) được phân 2 căn hộ. Còn với đa số cán bộ, công nhân viên, chủ nghĩa bình quân được áp dụng - thường hai, ba gia đình ở chung một căn hộ, thậm chí ở chung phòng, sử dụng chung nhà bếp, nhà vệ sinh và nhà tắm. Vào đầu những năm 1980, tỷ lệ hộ chia sẻ căn hộ/ phòng hay ở chung/ ở tập thể ở Kim Liên là khoảng 61% (“Kiến trúc Hà Nội thế kỷ 19 - 20”, Đặng Thái Hoàng, Nxb Hà Nội, 1985). Sau khi đi học từ Liên Xô về, Kiến trúc sư Trương Tùng là người có 5 năm trải nghiệm cuộc sống trong khu tập thể Văn Chương, ông rất thấm nỗi khổ của người dân khi không có những không gian sinh hoạt riêng. Vì vậy, ông là người đã đưa ra chủ trương thiết kế căn hộ 2 phòng nhỏ để tiện phân chia, đồng thời thiết kế căn hộ có bếp và phòng tắm riêng.

Nhưng từ chủ trương đến thực hiện được là một hành trình rất dài. PGS.TS Nguyễn Văn Huy - Giám đốc Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam, sau này đã sưu tầm tài liệu của các nhà khoa học và từng trò chuyện sâu với KTS Trương Tùng, chia sẻ: “Trong quá trình đi học ở Liên Xô, KTS Trương Tùng đã sưu tầm 21 bản vẽ của các nước ở Châu Âu về cách các nước thiết kế không gian sống, mang về Việt Nam để thuyết phục cấp trên thực hiện. Ông kiên trì cho đến khi thuyết phục được. Năm 1969 - 1971, công trình nhà tập thể có bếp - xí - tắm đầu tiên được thí điểm trong trường Đại học Bách Khoa. Công trình đầu tiên này phải xây bằng tấm bê tông lớn nhưng Việt Nam lúc ấy chưa có nhà máy bê tông. Trong một lần đi dọc sông Hồng, ông thấy người ta đổ xỉ than bỏ đi. Ông nói rằng “cái tôi cần thì người ta lại bỏ”. Và ông đã đề xuất sử dụng xỉ than để làm bê tông tấm lớn, vừa nhẹ, vừa tiện dụng. Những tấm bê tông lớn đầu tiên ở nước ta được hình thành nhờ việc phơi nắng”.

Dù đã được thí điểm, KTS Trương Tùng vẫn tiếp tục không ngừng bền bỉ đấu tranh cho đến khi mô hình nhà tập thể này được thực sự xây dựng rộng rãi. Phải tới năm 1987, Nhà nước mới chính thức đưa ra tiêu chuẩn thiết kế xây dựng nhà ở, trong đó “căn hộ phải được thiết kế độc lập, khép kín với đầy đủ các bộ phận: phòng khách và các bộ phận phụ trợ” (Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam 1987). Những bài học từ ước mơ và khát vọng KTS Trương Tùng nói riêng hay thế hệ kiến trúc sư thời bao cấp nói chung trở thành một phần trong di sản kiến trúc.

“Ngoài tinh thần sáng tạo trong nghịch cảnh, bền bỉ và tâm huyết với ước mơ còn là sự ảnh hưởng lâu dài của kiến trúc thời bao cấp đến kiến trúc Việt Nam hiện đại, đặc biệt là các giá trị về tính bền vững, thực dụng và tinh thần cộng đồng. Những ước mơ và khát vọng của thế hệ kiến trúc sư thời ấy cũng đã tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển của kiến trúc Việt Nam hiện đại, và là nguồn cảm hứng cho thế hệ kiến trúc sư trẻ tiếp tục sáng tạo”, PGS. TS Nguyễn Văn Huy đúc rút.

“Hào hùng và bi tráng” là vậy nhưng trong câu hỏi “Kiến trúc nào đại diện cho bản sắc Hà Nội?” (một khảo sát xã hội do KTS Vũ Hiệp thực hiện), kiến trúc thời bao cấp chỉ chiếm 9%. (Kiến trúc truyền thống chiếm 56%, kiến trúc Pháp chiếm 18% và kiến trúc đương đại chiếm 17%). Để lý giải cho tỷ lệ hạn chế về di sản kiến trúc thời bao cấp, KTS Vũ Hiệp đã thực hiện một cuộc tổng hợp ý kiến của các chuyên gia. “Kiến trúc giai đoạn 1954 - 1986 được xây dựng trong giai đoạn đất nước khó khăn nên quy mô, sự phong phú về hình khối, cũng như chất lượng vật liệu không bằng các giai đoạn khác. Ký ức xã hội cũng khá phức tạp - trong khi vẫn nhớ về giai đoạn đó vì tự hào chiến thắng Mỹ nhưng lại muốn quên đi những khó khăn về kinh tế và đói nghèo do không được tự do kinh doanh và sản xuất. Kiến trúc giai đoạn này cũng ít được quảng bá đến công chúng. Khảo sát các sách lịch sử kiến ​​trúc trong 10 năm trở lại đây, chúng tôi nhận thấy sự thống trị của các cuốn sách về kiến ​​trúc thuộc địa Pháp và sự vắng bóng của kiến ​​trúc giai đoạn 1954 - 1986”, KTS Vũ Hiệp cho biết.

Nhìn lại kiến trúc thời bao cấp trong bối cảnh 5 năm Hà Nội gia nhập Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO có thể thấy kiến trúc thời kỳ này cần được đánh giá khách quan hơn. Hà Nội là thành phố lớn duy nhất ở Đông Nam Á có một hệ thống di sản kiến trúc XHCN rõ nét, đầy đủ: công trình công nghiệp, công cộng, nhà ở. Những công trình đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh quá khứ, văn hóa và bản sắc của thành phố, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình phát triển của thành phố theo thời gian. Đây cũng là một nguồn lực đặc biệt của Hà Nội để xây dựng thương hiệu đô thị: Thành phố Vì hòa bình, Thành phố sáng tạo./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
  • Ngựa trong đời sống Thăng Long - Hà Nội
    Hà Nội có 5 địa danh gắn với chữ Mã là phố Kim Mã, hồ Mã Cảnh, phố Hòa Mã, phố Hàng Mã và đền Bạch Mã. Tuy nhiên, chữ Mã với nghĩa là ngựa thì chỉ có Kim Mã, Mã Cảnh và Bạch Mã. Tuy nhiên Bạch Mã với nghĩa ngựa trắng chỉ là truyền thuyết, còn chữ Mã trong Hàng Mã và Hòa Mã là chữ Nôm chỉ đồ cúng tế, quần áo mặc khi làm lễ.
  • Phường Hoàn Kiếm: Dâng hương kỷ niệm ngày hóa của Đức Hỏa Thần
    Sáng 17/11/2025, tại đền Hỏa Thần (số 30 Hàng Điếu, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội), Đảng ủy, HĐND, UBND, UB MTTQ phường Hoàn Kiếm phối hợp cùng Ban Quản lý hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội, Tiểu ban quản lý di tích Đền Hỏa Thần và nhân dân địa phương long trọng tổ chức lễ dâng hương kỷ niệm ngày hóa Đức Hỏa Thần.
  • Đồ chơi Trung thu Hà Nội xưa: Từ ký ức đến hành trình tiếp nối
    Rằm tháng Tám, tiếng trống hội, đèn ông sao, mùi bánh nướng, bánh dẻo… như đánh thức ký ức tuổi thơ trong mỗi người. Với trẻ nhỏ, Trung thu là đêm hội rước đèn, phá cỗ dưới trăng, còn với người lớn, đó là dịp trở về miền ký ức với những món đồ chơi dân dã. Năm nay, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam mang đến cho công chúng một trải nghiệm đặc biệt qua không gian nghệ thuật sắp đặt “Sắc Thu” (diễn ra từ 4/10 và kéo dài đến 4/11/2025). Trong không gian ấy, có nhiều đồ chơi truyền thống gắn với các làng nghề Hà Nộ
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải lưu vực S3, nhà máy xử lý nước thải Phú Đô
    Tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề) ngày 11/5, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải cho lưu vực S3 tại các phường Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Yên Hòa, Phú Diễn, Từ Liêm, Đại Mỗ và Nhà máy xử lý nước thải Phú Đô, Thành phố Hà Nội, theo hình thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT).
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Quốc lộ 1A lên 90m
    Dự án trục không gian Quốc lộ 1A có chiều dài khoảng 36,3km, đoạn từ đường Vành đai 1 đến nút giao Cầu Giẽ, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 162.000 tỷ đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
Ký ức Hà Nội thời bao cấp qua di sản kiến trúc
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO