Tác giả - tác phẩm

Nhà thơ Thu Bồn: Sức vóc trường ca và nét thơ xao xuyến

Nhà thơ Vũ Quần Phương 13/07/2023 08:01

Vóc hình cao lớn, nói năng hồn nhiên, ứng xử phóng khoáng. Viết nhanh, viết nhiều, vừa tiểu thuyết vừa thơ. Định là làm. Làm cật lực và chơi cũng cật lực. Vào Nam ra Bắc, nồng nhiệt những bạn bè, văn chương, nghệ thuật. Tôi có cảm giác Thu Bồn luôn luôn dư thừa sức lực, sức lực thể chất và sức lực tâm hồn. Cũng phải thân xác ấy mới đủ sức để chạy theo được những ý tưởng những cảm xúc luôn bề bộn trong lòng ông.

nha-tho-thu-bon.jpg

Tôi đã nghe ông kể về việc địu con bằng ba lô, vượt bom đạn Trường Sơn ra Bắc. Đứa bé thò chân qua hai lỗ khoét ở hai góc ba lô. Và ông thì đi bộ, đi xe quân sự, nhiều tháng đường rừng. Hà Nội một năm nào đó, khi trả lời một bạn văn trách ông vắng mặt buổi nhậu đêm Trung thu, ông nói: mình ngồi với cháu ở nghĩa trang. Gương mặt ông lúc ấy rất buồn và tôi cứ mãi hình dung bóng ông bất động bên mộ con trong cái nghĩa trang rộng bạt ngàn phần mộ dưới trăng đêm ấy. Cách đây, cũng đã nhiều năm, khi đi tìm những câu thơ hay cho ngày thơ Nguyên tiêu, bạn thơ Hữu Thỉnh nhắc tôi hai câu của Thu Bồn, mà với tôi là rất lạ: “Lấy khăn mà gói bơ vơ/ Tay cầm nước mắt bao giờ sang sông”.

Lạ, trong chất hồn dân tộc đắm đuối xót thương. Cả lời, cả cảnh, cả tình, cả ý rưng rưng nỗi niềm một thuở xa xưa, thân gái dặm trường, đò sông bến nước. Lạ, khi ốp thơ ấy vào vóc dạc và cá tính Thu Bồn, khi chiếu thơ ấy vào dòng cuồn cuộn ào ạt và cũng hơi xô bồ của các trường ca đậm hương vị Tây Nguyên, từ “Bài ca chim Chơ Rao” đến “Ba dan khát”. Cái hay tiêu tao của câu thơ ấy như một nhắc nhở tôi lưu tâm tìm một khía cạnh khác. Lắng hơn, trầm hơn, rất sâu nặng tình đời trong thơ Thu Bồn.

Thu Bồn (1935-2003) có tên khai sinh là Hà Đức Trọng, người làng Điện Thắng, huyện Điện Bàn Quảng Nam. Bạn đọc miền Bắc biết Thu Bồn khi trường ca “Bài ca chim Chơ Rao” lần đầu được in trọn vẹn trong một số của tuần báo Văn Nghệ Hà Nội năm 1965. Đầu trường ca tác giả đề: Kính tặng miền Bắc, cuối trường ca là ngày hoàn thành: tháng 5/1963. Những năm ấy các tác phẩm văn chương từ miền Nam gửi ra còn hiếm và rất được trân trọng đọc như đọc thư người thân. Về thơ, bà con miền Bắc khi ấy mới biết Giang Nam, Thanh Hải, Văn Công. Bấy giờ biết thêm Thu Bồn, và sau đó nữa là Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Dương Hương Ly... “Bài ca chim Chơ Rao”, ngót một ngàn câu thơ, được xếp trang khá đặc biệt trên mặt báo Văn Nghệ để bạn đọc có thể tách ra, gấp lại, đóng thành tập thơ 32 trang khổ 13x19, lưu hành độc lập với tờ báo. Bạn đọc, bạn viết miền Bắc nồng nhiệt đón nhận tác phẩm và Thu Bồn nhanh chóng thành một tên tuổi tiêu biểu của thơ ca cách mạng miền Nam. Ưu điểm trước tiên của Thu Bồn thuộc về bút lực. Sức cảm xúc mạnh, hơi thơ liền mạch. Câu chuyện đấu tranh phi thường của hai chiến sỹ Kinh và Thượng trong nhà tù Mỹ Diệm được kể bằng bút pháp biểu tượng, thấm đẫm cảm hứng lãng mạn, siêu thực. Vũ khí của nhân vật chính diện là tiếng hát. Các anh chiến thắng cực hình bằng tiếng hát. Làm rã hàng ngũ nghìn quân địch cũng bằng tiếng hát. Thu Bồn tạo được không gian thơ kỳ ảo cho tiếng hát cất cánh. Câu thơ chắc gọn và biến hóa, đặc biệt chất thơ rất nhiều hư ảo. Có thể thấy trong cách làm câu cho “Bài ca chim Chơ Rao”, Thu Bồn đã tiếp nhận được thành tựu của “Bài thơ Hắc Hải” của Nguyễn Đình Thi, xuất bản năm 1959 ở Hà Nội. Thu Bồn năm ấy chưa đầy ba mươi tuổi. Bút pháp mới mẻ và đang hăm hở đi tới. Ông vận dụng những sáng tạo của cổ tích, của anh hùng ca cổ xưa. Hình ảnh hai vòng tay lửa ôm nhau của hai chiến sỹ phút hy sinh phi thực, phi thường, đầy bi tráng, như trong bi kịch Hy Lạp cổ xưa. Khi hai sợi dây trói đã cháy, hai người con Kinh - Thượng ấy: “Hai ngọn lửa đuốc rùng rùng tiến lại/ Hai vòng tay lửa gán vào nhau”.

Thu Bồn có sức bút mạnh mẽ. Ông viết nhanh, viết nhiều và chất lượng khá đều. Ông hay trở lại với đề tài Tây Nguyên, vùng đất đánh thức trí tưởng tượng ông từ tuổi bé thơ, khi bỏ cả ngày xuống chợ Thanh Quýt để xem người Thượng cưỡi voi về mua bán. Trong kháng chiến chống Pháp, ông sống với đồng bào Tây Nguyên, xúc động trước bao tấm gương hy sinh cao cả thầm lặng của đồng bào. Ông sử dụng nhuần nhuyễn các chất liệu Tây Nguyên. Hơn thế, ông biết cách kỳ ảo hóa, tạo thêm sức mê đắm hoang dại và thần kỳ. Những cuộc săn thú, săn người trong “Ba dan khát” kỳ lạ và lôi cuốn. Đất nước Campuchia hiền hòa tương phản gay gắt với hành động diệt chủng man rợ, quái đản của bọn Pôn-pốt. Chỗ xung đột gay gắt là chỗ Thu Bồn thường cất lên những cảm xúc mạnh mẽ, xây dựng các hình tượng có tầm vóc. Ông lựa chi tiết đặc tả rất có thần. Thủ đô Phnôm Pênh trong nạn diệt chủng (Campuchia hy vọng): “Những con chuột ăn gót chân người sống/ Những con mèo hoang bị chuột tha đi”.

Nét hùng vĩ của cảnh và người Tây Nguyên được hình tượng hóa: “Quê hương lạnh đắp chăn bàng lửa/ Con đại bàng nhám mát ngủ trong mây”.

Cảnh chủ làng săn đuổi đôi trai gái (Ba dan khát): “dòng sông quặn lại/ Mặt trời đau mờ mịt dưới lòng sâu”. Cảnh bà mẹ Chàm có đứa con bị giết đi tìm mẹ tên giết người. Những hành động bất ngờ của những tính cách mạnh mẽ giàu chất lãng mạn và giàu chất thơ mang tính nhân đạo nhân dân sâu sắc.

Thơ Thu Bồn mạnh ở những mảng cảm hứng lớn, ôm trùm hiện thực rộng, chất liệu đời sống lạ, cho phép một ngôn ngữ phóng khoáng, một cảm xúc tung hoành, đắm vào lãng mạn, lấy bút pháp khoa trương làm rường cột cho cốt truyện và tạo nên không khí trữ tình cho không gian tự sự. Cái ấn tượng lực lưỡng trong hồn thơ Thu Bồn phát sinh từ đặc điểm đó. Đặc điểm làm nảy sinh một loạt trường ca đề tài phong phú, phong vị rất Thu Bồn (“Bài ca chim Chơ rao” - 1963, “Vách đá Hồ Chí Minh” - 1970,”Quê hương mặt trời vàng” - 1975, “Chim vàng chốt lửa” - 1975, “Ba dan khát” - 1976, “Campuchia hy vọng” 1978, “Người vắt sữa bầu trời” - 1985, “Thông điệp mùa xuân” - 1985...). Và chính nó, cái đặc điểm ấy, cũng làm mờ một khía cạnh khác trong cảm hứng thơ của Thu Bồn. Ấy là cái chất lặng và thấm, giàu phong vị truyền thống và nảy sinh từ hiện thực của đời. Nó là cái chất đã kéo con người Thu Bồn, vốn phóng túng như ngọn gió rừng hoang dại, ngồi lặng trầm tư bên mộ con gần trọn một đêm trăng Trung thu năm ấy.

Ở những bài thơ ngắn, Thu Bồn cũng viết bằng hơi trường ca nên thường dài và ít quan tâm đến việc chăm sóc ngôn ngữ. Ông chú trọng nhiều đến hơi thơ, giọng thơ “đại tự sự” hơn là mạch nội tâm cá thể hóa trầm lặng. Phải đến những năm ngót bảy mươi, cái con người tráng kiện của sử thi ấy, mới có dịp quay về chiêm nghiệm lại tháng ngày ông đã sống. Ông nhớ một miền quê thơ ấu - làng Phú Thạch, thị xã Tuy Hòa, với những lam lũ vất vả một thời xưa. Ông nhớ Hà Nội, “Nơi không xa cách được mà mình xa cách rồi”. Ông nhớ mùa đông xứ Bắc những năm tập kết áo bông rộng thênh thang. Ông nhớ “Những con người đi qua đời tôi chẳng bao giờ gặp lại”. Ông phát hiện những lẽ đời sâu nặng trong những việc thường ngày. Đôi lúc thoáng qua cảm giác chua chát trước biến động của cuộc sống. Ông chia sẻ và cảm thông sâu sắc với người nông dân sương nắng tự bao đời mà hôm nay vẫn còn sương nắng: “Ngày úp mặt xuống cánh đồng/ Đêm úp mặt lên hai cánh tay”. Thơ ông thâm trầm hơn nhưng thời gian của riêng ông không còn đủ cho ông khai thác cái vỉa ngầm tiềm lực đặc sắc ấy. Đặc sắc trong sự tinh tế và thấm đượm. Xin lọc ra từ một số bài thơ ngắn và từ những đoạn trữ tình xen trong trường ca: “Chim vàng vẫn kêu trong một vùng dĩ vãng của rừng cây”. Vùng dĩ vãng của rừng cây. Đang đọc trôi chữ, tôi bỗng sững lại trước khóm từ này. Nó là một hình tượng. Con chim hôm nay thì hót trong rừng hôm nay, vùng dĩ vãng của rừng nằm ở hoài niệm của người: con chim hôm nay bỗng về hót trong thời gian cũ. Trên phương nằm ngang của trục thời gian quá khứ - hiện tại - tương lai, bỗng nhiên võng xuống một chiều sâu của hoài niệm, của trải nghiệm, của nông nỗi đời người. Phía trên tôi nói lọc ra vì câu thơ ông thích bay trên đầu sự kiện - cao, đẹp, phóng khoáng - hơn là chìm sâu vào lòng nó - thâm trầm, sâu lặng. Chỉ đôi khi, như tình thế tạo nên, một lần trú trong hầm bí mật dưới đất sâu: “Đầu cành cây có ra hoa/ Chắc là nở với lòng ta dưới này/ Ta nghe trâu giục luống cày/ Có con chim sẻ đang bay ngang trời”.

Một lần khác, trong bài thơ “Cho tôi về lại”: “Cho tôi về lại với hàng tre râm mát/ Nằm trên cỏ xanh trâu gặm ướt chiều hôm/ Cho tôi về với cánh đồng vàng gốc rạ/ Những người thợ gặt đi rồi… Còn nỗi nhớ mênh mông”.

Trâu gặm ướt chiều hôm, gợi cảm nhưng cũng là câu dễ viết. Cái chất thơ nhìn gốc rạ sau vụ gặt mà nhớ mênh mông đáng quý hơn. Nó có nhiều nỗi niềm từng trải lặn chìm trong đó.

Vào chặng cuối của đời, Thu Bồn, như mọi nhà văn vào tuổi ấy, thường hướng về hoài niệm nên dễ đụng vào những vùng cảm xúc ấy. Câu thơ ông vẫn bước đều chân nhưng người đọc thì sửng sốt và âm thầm dừng lại. Dừng lại với câu thơ để gặp chính hồn ông, để lắng nghe trong ấp úng ngôn từ cái phần đời mà ông chưa nói hết.

Khoảng thập niên cuối thế kỷ trước, một trưa, ông hẹn mươi người bạn đến căn nhà nhỏ dưới chân đê Hoàng Hoa Thám gần Chợ Bưởi, mừng cuộc sống gia đình mới của ông. Ông kể rằng hôm trước ông thuê xích lô dọn nhà cho cô dâu từ nam chợ Mơ về đây. Lúc xe rẽ từ đê Hoàng Hoa Thám xuống xóm thì lại lao xuống ao. Đường dốc, lúc ấy mới biết ông xích lô lại là thương binh, có một bàn chân gỗ, không ghì được xe. Rõ khổ, đồ đạc rổ rá đã cạp lại cứ trôi lềnh bềnh dưới ao. Ông đương kim chú rể phải lội xuống vớt lên. Vớt của hồi môn, vớt cả ông lái xe, rồi mời ông ấy uống rượu với mình. Chuyện vậy nhưng Thu Bồn kể vui lắm, giọng hồn nhiên như nói chuyện người ta. Mọi người cười, cô dâu cười hăng hái nhất. Bữa ấy vui mà cũng thoáng ngậm ngùi.

Không biết có gì liên quan giữa cách kể chuyện mình thản nhiên như thế với những câu thơ lấp lánh nội tâm mà thơ ông cứ lướt qua?

Phải chăng ông muốn ghi cho nhanh những nét thời cuộc hay muốn đáp ứng một chức năng xã hội khẩn thiết của thơ ca mà chưa có lúc mình chuyện với mình về chính cuộc đời mình? “Bài ca chim Chơ Rao” thành công đầu đời chói lọi, làm nên tên tuổi ông, ở đấy cái Đẹp, cái Cao cả như chất men thúc đẩy con người nhập cơn say lý tưởng, cơn say chiến đấu. Thành tựu ấy là rất quý, Nhưng say gì rồi cũng có lúc tỉnh. Chính “khi tỉnh rượu, lúc tàn canh” là lúc con người cần tìm vào sự sâu sắc của nội tâm. Tìm vào sâu sắc mà nhận ra “Đường trên mặt đất”“Sức đi của lòng mình”. Thu Bồn ở chặng “Tay cầm nước mắt bao giờ sang sông” là lúc ông đang nhập vào cõi sâu sắc của lòng mình mà chiêm nghiệm nhân gian./.

Bài liên quan
  • Tiểu sử tự thuật viết ở Đông Berlin, tháng 9/1961
    Tháng 6/2023 là kỷ niệm đúng 60 năm ngày mất (3/6/1963) của nhà thơ lớn Thổ Nhĩ Kỳ Nazim Hikmet (1902 – 1963). Ông cũng là một chiến sĩ dũng cảm suốt đời đấu tranh cho hòa bình và công lý trên trái đất, đã được tặng Giải thưởng Hòa bình quốc tế do Hội đồng Hòa bình thế giới trao tặng năm 1950. Sau khi trải qua 17 năm tù đày dưới chế độ độc tài, khi ra tù, ông phải sống lưu vong đến hết đời ở nhiều nước, làm văn, làm thơ, viết báo, đồng thời là diễn giả sôi nổi trên các diễn đàn đấu tranh cho quyền tự do, d
(0) Bình luận
  • Lan tỏa những điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
    Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Ban Chuyên đề - Báo Nhân Dân phối hợp Ban sách Lý luận, Kinh điển - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách “Hoa vườn Bác” (Những điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh). Cuốn sách tuyển chọn 70 bài viết về những cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo Bác Hồ, tích cực lao động, sản xuất, học tập, nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
  • Tiểu thuyết “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” của Hồ Anh Thái sắp được xuất bản bằng tiếng Trung
    Trong khuôn khổ Hội sách Quốc tế Bắc Kinh 2026 (BIBF 2026), chiều ngày 17/6/2026, Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam và Nhà xuất bản Lijiang (Trung Quốc) đã tổ chức lễ ký kết hợp tác bản quyền xuất bản tiểu thuyết “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” của nhà văn Hồ Anh Thái bằng tiếng Trung.
  • Thế giới tuổi thơ và hình tượng người mẹ trong tập thơ “Trắng mây tóc mẹ” của Trương Anh Tú
    Tập thơ “Trắng mây tóc mẹ” (NXB Kim Đồng, 2024) của tác giả Trương Anh Tú viết về thế giới trẻ thơ, song lại chứa đựng bề sâu cảm xúc mà cả người lớn lẫn trẻ nhỏ đều có thể cảm nhận. Với 24 bài thơ, được sắp xếp theo nhịp thời gian bốn mùa và những khoảnh khắc đời thường, tập thơ đã dệt nên một thế giới trong trẻo. Xuyên suốt tập thơ, bóng dáng người mẹ hiện lên với sự yêu thương, che chở.
  • Ra mắt cuốn sách “Xây dựng chính phủ liêm chính, kiến tạo trong kỷ nguyên mới”
    Sáng 19/6/2026, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Văn phòng Chính phủ tổ chức Lễ giới thiệu cuốn sách “Xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo trong kỷ nguyên mới” của GS.TS Nguyễn Hòa Bình, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, nguyên Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Chính phủ.
  • Họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Ký ức chắt lọc qua nhịp điệu màu sắc
    Họa sĩ Trần Nguyên Dũng (1942-2023) là một gương mặt âm thầm, bền bỉ của mỹ thuật Hà Nội. Sau ba năm ngày ông ra đi, một triển lãm cá nhân giới thiệu những sáng tác lúc sinh thời của Trần Nguyên Dũng được tổ chức tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam từ ngày 2 đến 10/6/2026. Triển lãm “Trần Nguyên Dũng - Những ngày thảnh thơi” giới thiệu 60 tác phẩm trên nhiều chất liệu như một lát cắt tương đối đầy đủ về hành trình nghệ thuật của ông, cho thấy một đời sống nội tâm phong phú, gắn liền với truyền thống văn hóa dân tộc.
  • Tác phẩm đoạt Huy chương Newbery 2024 “Mắt và nhiệm vụ bất khả thi” ra mắt bạn đọc Việt Nam
    Nhà xuất bản Kim Đồng vừa ra mắt bạn đọc tác phẩm “Mắt và nhiệm vụ bất khả thi” (The Eyes and the Impossible) của nhà văn Dave Eggers, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Xuân Hồng. Tác phẩm từng giành Huy chương Newbery 2024 - giải thưởng danh giá hàng đầu của văn học thiếu nhi Mỹ dành cho tác phẩm xuất sắc nhất năm.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • Triển lãm đa giác quan “Giao thời”: Kết nối di sản với công nghệ
    Từ ngày 24/6 đến 31/7/2026, tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam diễn ra triển lãm đa giác quan “Giao thời”. Sự kiện do Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam phối hợp với VietArt, LumiPark và LumiTech tổ chức.
  • Chiếu miễn phí bộ phim tài liệu “Đất tổ quê cha” nhân Ngày Gia đình Việt Nam
    Buổi chiếu phim sẽ chính thức diễn ra vào lúc 15h00, Chủ nhật ngày 28/06/2026 tại Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, số 465 Hoàng Hoa Thám, Ngọc Hà, Hà Nội.
  • Hấp dẫn chuỗi hoạt động tại Lễ hội Sen Hà Nội 2026
    Diễn ra từ ngày 26 đến 28/6 tại nhiều không gian văn hóa quanh hồ Tây, Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026 được tổ chức với nhiều hoạt động đặc sắc nhằm tôn vinh vẻ đẹp của hoa sen trong đời sống văn hóa Việt, quảng bá giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Đồng thời sự kiện giới thiệu những sản phẩm du lịch, văn hóa và sáng tạo gắn với sen tới người dân, du khách trong nước và quốc tế.
  • Ngày văn hóa Việt Nam tại Hà Nội năm 2026: Tôn vinh di sản, khơi nguồn sáng tạo Thủ đô
    “Ngày văn hóa Việt Nam tại Hà Nội” năm 2026 diễn ra từ ngày 21 đến 24/11/2026 tại khu vực hồ Hoàn Kiếm nhằm tôn vinh, quảng bá các giá trị di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội. Lễ khai mạc được tổ chức hoành tráng với quy mô gần 4.000 người tham gia diễu hành hành trình qua 3 chương nghệ thuật đặc sắc. Xuyên suốt bốn ngày hội, công chúng sẽ được hòa mình vào không gian nghệ thuật đa sắc màu tại ba sân khấu phụ và mãn nhãn với màn trình diễn ánh sáng công nghệ 3D mapping tại Tháp Rùa. Bên cạnh đó, hệ thống triển lãm ứng dụng công nghệ thực tế ảo cùng các khu vực ẩm thực, mua sắm...
  • Màu thời gian
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Màu thời gian của tác giả Nguyễn Đình Xuân.
  • Nhà hát Hồ Gươm đón dàn nghệ sĩ quốc tế danh tiếng trong đêm nhạc "Frozen Fire"
    Vào tối ngày 26/6, tại Nhà hát Hồ Gươm sẽ diễn ra chương trình hòa nhạc đặc biệt mang tên "Frozen Fire". Đêm diễn quy tụ những tên tuổi nghệ sĩ quốc tế danh tiếng, nổi bật là nhạc trưởng người Phần Lan Kalle Kuusava cùng nữ nghệ sĩ violin tài năng Sara Dragan đến từ Ba Lan, kết hợp với các nghệ sĩ tài hoa của Dàn nhạc Giao hưởng Hà Nội (Hanoi Philharmonic Orchestra). Đây là cơ hội hiếm có để công chúng yêu nhạc cổ điển Thủ đô trực tiếp thưởng lãm những kiệt tác giao hưởng kinh điển của châu Âu cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ngay trên sân khấu hiện đại bậc nhất Việt Nam.
  • Hà Nội ban hành Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô
    Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô Hà Nội vừa chính thức ban hành Quy chế làm việc, tạo cơ sở để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối và giám sát việc triển khai các chủ trương, nhiệm vụ phát triển văn hóa trên địa bàn Thành phố; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng và phát triển văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Xã Hồng Vân phổ biến Luật Thủ đô năm 2026 tới cán bộ, Nhân dân
    Nhằm lan tỏa các nội dung của Luật Thủ đô năm 2026, UBND xã Hồng Vân (TP Hà Nội) đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến, tập huấn và bồi dưỡng Luật Thủ đô năm 2026 và các văn bản hướng dẫn thi hành tới các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động các cơ quan, đơn vị, đại diện các thôn, tổ dân phố trên địa bàn xã.
  • Nhìn lại một thời của Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn
    Ngày 20/6, tại Hà Nội đã diễn ra tọa đàm nghệ thuật “Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn trước năm 1975: Một thời nhớ lại” do A&V Foundation tổ chức. Thông qua những chia sẻ của họa sĩ Trịnh Cung cùng phần trao đổi với nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng và các khách mời, tọa đàm đã góp phần nhận diện rõ hơn quá trình hình thành, phát triển của Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn cũng như những giá trị nghệ thuật mà thế hệ họa sĩ này để lại cho mỹ thuật Việt Nam.
  • Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt
    Chiều 20/6/2026, NXB Kim Đồng phối hợp cùng Học viện đào tạo Truyện tranh Comicola Academy và Cộng đồng họa sĩ truyện tranh Việt Nam PunkgaMe tổ chức tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt” và workshop “Quy trình chuyển thể tác phẩm văn học sang truyện tranh”. Tham dự sự kiện có đông đảo biên tập viên, họa sĩ chuyên nghiệp, các bạn trẻ đam mê sáng tác truyện tranh và độc giả yêu thích truyện tranh.
Nhà thơ Thu Bồn: Sức vóc trường ca và nét thơ xao xuyến
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO