Lý luận - phê bình

Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn 16/03/2026 20:39

Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).

Cuộc đời và sự nghiệp văn chương Nam Cao từ đó đã trở thành biểu tượng của một vùng văn hóa, văn học, nghệ thuật; thành điểm đến trong tâm thức nhiều thế hệ độc giả cũng như du khách trong và ngoài nước.

anh-1.jpg
Nhà văn Nam Cao (Ảnh tư liệu).

Trên cả hai phương diện văn hóa du lịch và du lịch văn hóa, có thể nhận diện, khái quát các đặc điểm và nhấn mạnh thực thể biểu tượng “điểm đến” - địa điểm, địa danh, danh tích, danh thắng, danh nhân, danh tài, danh tộc Nam Cao - Vũ Đại - Cao Đà - Lý Nhân. Nói cách khác, đây là mối quan hệ giữa tiềm năng và hiện thực, giữa sản phẩm du lịch và du khách, giữa việc kiến tạo vị thế giá trị địa danh và khả năng hấp dẫn, lan tỏa bốn phương. Với trường hợp Nam Cao, quá trình tích hợp, kết tinh, chuyển tải và chuyển hóa các giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm qua các phương tiện truyền thông đã dần trở thành tiềm năng, tiềm lực và sản phẩm du lịch gắn với địa danh cụ thể. Đó cũng là sự tổng hợp những giá trị bắt nguồn từ chính quê sinh, từ tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp nhà văn, từ khả năng tái tạo hình ảnh cảnh quan, con người và đời sống quê hương trong tác phẩm.

Về phía độc giả, diễn ra khả năng tiếp nhận theo cách “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”, khơi gợi hình dung, tưởng tượng về một không gian làng Vũ Đại với bến đò và “cái lò gạch cũ”, với nghề dệt vải, với ngôi nhà nguyên mẫu Bá Kiến thuở trước; với ngôi nhà, lối ngõ, nấm mộ và Nhà lưu niệm Nam Cao hôm nay; với những nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến, lão Hạc, Tự Lãng, Thị Nở, Binh Chức, Dì Hảo, Lang Rận, Trạch Văn Đoành… - chủ nhân chốn làng quê một thời. Trên tư cách độc giả chuyển hóa thành chủ thể du khách “kép”, mỗi người có cách tiếp nhận riêng, khơi gợi sự hiếu kỳ và niềm trân trọng để mong ước một lần đến thăm quê hương nhà văn. Độc giả - du khách mong muốn “tận mục sở thị” để biết vì sao làng quê bình dị ấy đã sinh thành, nuôi dưỡng nên nhà văn Nam Cao, và cội nguồn những con người, cảnh vật kia đã được chuyển hóa như thế nào trong tác phẩm của ông.

Nam Cao sáng tác và chính tác phẩm đã làm nên tên tuổi Nam Cao, định vị vùng quê Nam Cao, đồng thời đưa quê hương ấy vào lịch sử văn học, vào bản đồ điểm đến của du khách và vào đối tượng nghiên cứu của du lịch học. Ngoài hệ thống nhân vật, cảnh quan quê hương trong văn Nam Cao cũng khơi gợi trí tưởng tượng và vẫy gọi du khách phương xa. Này đây là ấn tượng về cái lò gạch cũ hoang hoải đầu đồng cuối bãi trong “Chí Phèo”; khung cảnh một sớm quê thật quê, một anh Chí Phèo như thức, như tỉnh, như chiêm cảm, như quán chiếu, hay giây lát đốn ngộ thực tại sự sống của mọi chúng sinh: “Hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm”; “Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy... Chao ôi là buồn!”…; này đây là cảnh đi tàu thủy, cập mạn đò, đò màn, “bến màn” (“Đi đứng chớ có vội vàng,/ Đứt dây đò màn rơi tõm xuống sống”) qua lời thầy hiệu trưởng trường tư khổ nói với nhà giáo văn sĩ Điền trong “Sống mòn”…

Từng trang văn gắn với cảnh quê, con người và đời sống như thế đã và đang tiếp tục cuốn hút độc giả – du khách bốn phương về với quê hương Nam Cao. Chính những trang văn ấy đã làm nên tên tuổi nhà văn, định hình quê hương xứ sở và thương hiệu cho một vùng văn hóa du lịch và du lịch văn hóa.

Bên cạnh sức sống nội tại của dòng chủ lưu tác phẩm Nam Cao đến với công chúng bạn đọc còn có những dòng tiếp nhận bồi đắp, mở rộng qua ký ức, hồi ức của người thân trong gia đình, làng xóm, bạn văn, giới nghiên cứu, phê bình và dịch thuật.

Trước hết là ký ức của những người thân thiết, gắn bó, ân tình, đồng cam cộng khổ như bà Trần Thị Sen - vợ nhà văn. Tiếp nối là những ghi chép, góp nhặt, đan kết tư liệu cũ mới của Trần Thị Hồng - con gái nhà văn (sinh năm 1938, khi cha mất đã 14 tuổi)…

Mở rộng hơn là tiếng nói giữa giới nhà văn. Chẳng hạn, Tô Hoài kể về tình bạn thắm thiết với Nam Cao, đã in báo từ những năm 1954-1956, trong đó có những quan sát, kiểm chứng, lý giải từ góc độ người cùng giới sáng tác, cùng thời, cùng trong sinh quyển văn hóa - xã hội giữa mùa thực dân, phong kiến: “Nhà anh là một nhà trung nông lép vế. Truyện Chí Phèo in ở Hà Nội, chính là cái chuyện anh Chí Phèo thật đã giết một tên tổng lý cường hào thật đã xảy ra mười mấy năm về trước ở làng anh; vì chuyện ấy mà cường hào dọa đánh và kiện anh, triệt đường anh về làng”... Những chi tiết này cũng được bà Trần Thị Sen cảm nhận, xác nhận, ghi nhận trong hồi ức.
Bên cạnh đó còn có nhiều trang viết của những người cùng thế hệ, cùng nghề nghiệp, bạn văn, bạn đời từng trực tiếp gặp gỡ, hiểu biết, góp phần làm sáng tỏ và tôn vinh chân dung nhà văn Nam Cao như Nguyên Hồng, Kim Lân, Như Phong, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Lê Văn Trương, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Văn, Phạm Lê Văn…

toan-canh-khong-gian-phia-ngoai-cua-nha-tuong-niem-nha-van-dddd.jpg
Nhà lưu niệm nhà văn Nam Cao tại xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình.

Sau này, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã dụng công điền dã, sưu tầm, kết nối tài liệu như Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phong Lê, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Thang Ngọc Pho, Trần Quang Vinh, Đỗ Đình Thọ, Hoàng Cao… nhằm dựng lại chân dung Nam Cao cũng như mối quan hệ giữa cuộc đời và tác phẩm, đặc trưng sáng tạo và tâm lý sáng tạo văn học, vai trò tác giả, khả năng kiến tạo văn hóa văn học và du lịch vùng.

Theo một hướng tiếp nhận khác, tác phẩm Nam Cao được chuyển thể, chuyển đổi loại hình, tái cấu trúc thành phim như “Làng Vũ Đại ngày ấy” (1982) của đạo diễn Phạm Văn Khoa, chuyển thể từ ba tác phẩm “Sống mòn”, “Lão Hạc” và “Chí Phèo”; phim “Cậu Vàng” (2021) của đạo diễn Trần Vũ Thủy, chuyển thể từ truyện ngắn “Lão Hạc”; cùng nhiều phim tư liệu, hoạt hình, truyện tranh khác.
Nhà văn Kim Lân trong vai lão Hạc từng nhấn mạnh mối quan hệ giữa người đóng phim với nhân vật truyện và nhân vật phim, giữa hiệu ứng nhân vật và toàn cảnh phim với sự tiếp nhận của khán giả và đời sống xã hội: “Bây giờ ở đâu có những tay ba gai ba đồ sừng sỏ đầu gấu người ta gọi nó là thằng Chí Phèo, thậm chí có cả con Chí Phèo nữa, người ta tránh xa không muốn dây vào… Nhân vật của Nam Cao qua điện ảnh đã đi vào đời sống, đã thành những mẫu người của cuộc sống: Chí Phèo (Bùi Cường), Thị Nở (Đức Lưu), giáo Thứ (Hữu Mười), lão Hạc (Kim Lân). Những nhân vật ấy của Nam Cao thật sự vẫn đang sống giữa cuộc sống của đất nước mình ngày hôm nay”…

Khi được phiên diễn, tổng hợp, phổ cập và đại chúng hóa qua các ngành nghệ thuật khác, đặc biệt là điện ảnh, tên tuổi Nam Cao cùng tác phẩm và làng quê càng có sức lan tỏa như một phương thức quảng bá hữu hiệu cho du lịch. Tiếng vang tác phẩm, tên tuổi và quê hương Nam Cao như một điển hình vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ đã vươn tầm quốc gia và thời đại.

Trong điều kiện giao lưu văn hóa, văn học phát triển, nhiều học giả Việt Nam đã chú trọng nghiên cứu so sánh, đặt tác phẩm Nam Cao trong tương quan văn học thế giới. Có thể kể đến các công trình như Đào Tuấn Ảnh với “Tsekov và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới”; Phạm Tú Châu với “Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và AQ”; Trần Ngọc Dung với “Gặp gỡ giữa M. Gorki và Nam Cao” (1992)…

Mở rộng hơn, kể từ khi nhiều truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao được dịch ra các thứ tiếng Anh, Hàn, Nga, Nhật, Pháp, Trung…, tác phẩm của ông đã vươn tầm quốc tế, hội nhập nền học thuật khu vực Đông Á và thế giới hiện đại. Theo nhà Việt Nam học N.I. Niculin, các tác phẩm như “Đôi mắt” (1955), “Trăng sáng”, “Cười” (1962), “Chí Phèo” (1963) từng được xuất bản tại Liên Xô trong “Tủ sách văn học Việt Nam”; đồng thời, Maia Casen (1930–1987) đã tuyển dịch một số truyện sang tiếng Ukraine từ thập niên 1970…
Ở tầm địa phương, vùng miền cũng như quốc gia, chính tên tuổi Nam Cao và khả năng lan tỏa tác phẩm của ông đã kết tinh thành giá trị tinh thần, thành biểu tượng di sản văn hóa, thành đối tượng và tiềm lực của hoạt động du lịch. Khác với nhiều loại hình du lịch khác (tâm linh, tham quan di tích lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng, mạo hiểm, ẩm thực…), có thể nhấn mạnh tính đặc trưng của nguồn lực quê hương Nam Cao chính là tổng thể di sản tác phẩm lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.

Vùng quê chiêm trũng ấy nhờ có Nam Cao trở thành biểu tượng, địa điểm văn hóa và điểm đến mang ý nghĩa “kiến tạo vùng” của du lịch văn học. Làng Đại Hoàng xưa (làng Vũ Đại trong nguyên tác của Nam Cao) thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình) cùng câu chuyện diên cách làng xã cũng là vấn đề đáng thảo luận trong tiến trình hình thành bản sắc văn hóa vùng.

anh-3.jpg
Phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” (1982) chuyển thể từ các tác phẩm “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Sống mòn” của nhà văn Nam Cao.

Một mai, hy vọng trên quê hương Nam Cao sẽ có nhà bảo tàng chuyên đề, có trung tâm lưu trữ tác phẩm và phục vụ nghiên cứu, có quy hoạch các địa điểm di tích gắn với cuộc đời và sáng tác của ông. Đến nơi đây, du khách có thể thưởng thức phim tư liệu và trích đoạn chuyển thể, tiếp cận tác phẩm và công trình nghiên cứu, nghe giới thiệu sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa cuộc đời tác giả và nhân vật làng quê khúc xạ trong tác phẩm, đồng thời tận hưởng ngọn gió đồng quê và cảm nhận toàn cảnh hình ảnh quê hương của một nhà văn xuất sắc trong nền văn học dân tộc./.

Bài liên quan
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
(0) Bình luận
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
  • Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn
    Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Hà Nội thông qua chủ trương đầu tư Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng
    Sáng 11/5, tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề), HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • Kế hoạch tuyển sinh lớp 10, lớp 6, lớp 1 và mầm non tại Hà Nội
    Ban Chỉ đạo thi, tuyển sinh Thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch 01/KH-BCĐ về việc tổ chức thi, tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông và tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp 1, lớp 6 thành phố Hà Nội năm học 2026-2027.
Đừng bỏ lỡ
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO