Ở phố Khương Trung có mẹ Oanh
Tôi gặp lại P. trong một quán cà phê nhỏ vào một chiều Hà Nội bảng lảng sương giăng, khi cậu có chuyến công tác từ phương Nam ra. P. là đứa em, cũng là người đã chung lưng đấu cật với tôi suốt sáu năm trời trong một căn gác trọ nằm sâu nơi ngõ ngách Khương Trung. Đã lâu lắm rồi hai đứa mới có dịp ngồi lại, khuấy nhẹ ly cà phê, nhìn dòng người hối hả ngược xuôi qua lớp cửa kính. Giữa những câu chuyện không đầu không cuối về áp lực cơm áo gạo tiền, P. bỗng lặng đi một chút rồi hỏi: “Anh ơi, anh có nhớ mẹ Oanh không?”.

Cái tên ấy vừa cất lên, cả một vùng ký ức nghèo khó mà ấm áp của mười năm trước bỗng chốc dội về, vẹn nguyên như vừa mới hôm qua.
Ngày ấy, hai đứa chúng tôi vừa cầm tấm bằng tốt nghiệp ra trường, ngơ ngác giữa Thủ đô và ôm cái túi rỗng tuếch của những đứa con nhà nghèo. Rời khỏi ký túc xá, chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình tìm phòng trọ để dung thân. Sau một ngày ròng rã tìm đỏ mắt, ngược xuôi hết mọi ngõ ngách lớn nhỏ, cuối cùng hai đứa cũng “chốt hạ” được một căn phòng be bé rộng chừng mười hai mét vuông áp mái ở phố Khương Trung. Chú chủ nhà là người trực tiếp dẫn hai đứa lên xem phòng. Mặt chú lạnh như tiền, kiệm lời và không một chút cảm xúc. “Chủ nhà khó tính rồi đây”, suy nghĩ đó hiện lên trong đầu cả hai chúng tôi.
Căn phòng có giá một triệu tư, chưa tính điện nước và các khoản phụ phí. Đối với hai gã trai thất nghiệp lúc bấy giờ, tổng chi phí gần hai triệu một tháng là một áp lực khủng khiếp. Tôi cố lấy hết can đảm kì kèo, mong chú bớt cho vài chục nghìn lẻ. Nhưng chú vẫn giữ khuôn mặt lạnh tanh, dứt khoát quay lưng đi xuống cầu thang.
Hai đứa đang băn khoăn nửa muốn ở nửa muốn đi thì gặp cô chủ nhà đi chợ về. Cô giới thiệu tên là Oanh. Thú thật, cái chạm mặt đầu tiên ấy khiến hai đứa tôi có phần run sợ. Gương mặt cô vốn nghiêm nghị, lại thêm hàng chân mày kẻ sắc lẹm và lối trang điểm đậm sắc sảo có phần kịch nghệ - một phong cách rất riêng chẳng giống ai. Cảm giác ban đầu về cô là một người phụ nữ cực kỳ ghê gớm và khó tính.
Nhưng chúng tôi đã lầm hoàn toàn. Vừa thấy hai đứa mặt mũi bơ phờ, cô đã lởi xởi, cười nói nhiệt tình. Khi biết giá phòng chú vừa báo, cô ghé tai hai đứa nói nhỏ: “Các con cứ ở lại đi. Hàng tháng cô sẽ giấu chú gửi lại cho một trăm nghìn làm vốn”. Một trăm nghìn đồng của mười năm trước, đối với người khác có thể chỉ là một bữa ăn, nhưng với hai kẻ vừa ra trường đang đứng bên lề thành phố, nó là cả một phao cứu sinh, là tiền mì tôm của cả tuần lễ.
Giữ đúng lời hứa, cứ đến ngày thu tiền phòng, sau khi chúng tôi nộp đủ cho chú, cô lại lén tìm gặp riêng để dúi vào tay hai đứa tờ một trăm nghìn. Biết chúng tôi chưa có việc làm ổn định, thi thoảng đi chợ về, cô lại xách lên khi thì quả đu đủ chín cây, lúc thì túi ổi, túi bánh. Có những buổi chiều mưa gió ảm đạm, cô mang lên hẳn một bát thịt nấu giả cầy thơm nức, đầy đặn còn nghi ngút khói. Sự hào sảng và tình thương của người phụ nữ Hà Nội ấy đã sưởi ấm căn gác trọ lộng gió, giúp hai đứa tôi bớt đi cảm giác chênh vênh giữa phố thị bon chen.
Kỷ niệm sâu sắc nhất là một ngày mùa hè oi ả, P. phải đi giao hàng thuê cho một cửa hàng thức ăn nhanh, còn tôi ở nhà lên cơn sốt hầm hập. Nghĩ là cảm cúm qua loa, tôi nằm triền miên trên chiếu, không buồn gọi cho P. hay bạn bè. May sao chiều đó cô Oanh đi kiểm tra sân thượng, thấy cửa khép hờ nên đẩy cửa bước vào. Thấy tôi nằm co quắp, mặt mũi đỏ gay vì sốt, cô hốt hoảng kêu lên một tiếng rồi chạy vội xuống nhà. Lát sau, cô trở lên với chiếc khăn ướt đắp trán cho tôi, rồi lại tất tả chạy ra tiệm thuốc tây. Không quên, cô còn nấu cho tôi một tô cháo thịt nóng hổi, đầy ắp hành và tía tô. Nhận bát cháo ấm nóng từ tay cô, nước mắt tôi cứ thế rơm rớm, hòa lẫn vào vị cháo mặn chát. Những năm tháng bươn chải ở trọ, gặp không biết bao nhiêu người xa lạ, nhưng chưa có ai chăm sóc tôi bằng thứ tình cảm gia đình ruột thịt như thế.
Rồi chúng tôi cũng tìm được công việc chính thức, thu nhập dần khá lên. Đến tháng đóng tiền, tôi chủ động nói với cô không cần bớt một trăm nghìn nữa vì chúng con đã tự lo được rồi. Ấy vậy mà cô xua tay, nghiêm nét mặt: “Không được! Chữ tín cô phải giữ, đã hứa là cô làm”. Tôi và P. nhìn cô, lòng tràn ngập sự kính trọng trước đức tính kiên định và sòng phẳng của người phụ nữ ấy.
Sáu năm gắn bó với căn nhà trọ Khương Trung cũng đến ngày khép lại khi P. được công ty điều chuyển vào Nam, còn tôi cũng thay đổi công việc đến một nơi xa hơn. Ngày thu dọn đồ đạc ra đi, cô Oanh luyến tiếc ôm chặt lấy hai đứa chúng tôi, viền mắt cô đỏ hoe: “Có dịp về lại Hà Nội nhớ tới thăm cô nghe không!”. Nhất định rồi, bởi từ lâu, chúng tôi đã coi cô như người mẹ thứ hai của mình ở mảnh đất kinh kỳ này. Và có một bí mật mà mãi đến ngày rời đi chúng tôi mới biết từ lời kể của người hàng xóm: thực ra chú chủ nhà “mặt lạnh như tiền” kia đã biết chuyện cô bớt tiền cho chúng tôi ngay từ tháng đầu tiên. Chú biết hai đứa nghèo nên chỉ giả vờ làm ngơ để vợ đứng ra làm việc thiện. Người Hà Nội là thế, lòng tốt của họ đôi khi cứ giấu nhẹm sau vẻ ngoài có phần lạnh lùng, nghiêm khắc.
Bên ly cà phê chiều nay, P. nhìn tôi, giọng chùng xuống: “Anh biết tin gì chưa? Phố Khương Trung vừa nằm trong diện giải tỏa quy hoạch để mở đường lớn rồi. Nhà cô chú... không còn nữa anh ạ”.
Lời P. nói như một cú chạm mạnh vào lòng tôi. Tôi lặng đi, lồng ngực thắt lại một nhịp. Hà Nội đang thay da đổi thịt từng ngày, những con ngõ nhỏ chật hẹp, ngoằn ngoèo ngày nào đang nhường chỗ cho những đại lộ thênh thang, những tòa nhà cao tầng lộng lẫy. Bản đồ đô thị thay đổi, và ngôi nhà trọ sáu năm chở che thanh xuân của chúng tôi giờ chỉ còn là một khoảng đất trống trống, lẫn vào bụi đường và gạch vụn của đại công trường. Nhà của cô chú đã mất, ngõ phố quen đã không còn hình hài cũ.
Thế nhưng, tôi chợt nhận ra, những chiếc máy xúc, máy ủi của đô thị hóa có thể san phẳng những bức tường gạch, nhưng vĩnh viễn không thể “giải tỏa” được ký ức và tình người đã kết tinh ở đó. Nhà không còn, nhưng phố Khương Trung vẫn sống mãi trong lòng hai đứa tôi, bởi ở nơi đó, có bóng dáng một người mẹ trang điểm đậm, có bát cháo hành tía tô sực nức những ngày giông bão, và có một trăm nghìn đồng tiền “vốn” nuôi nấng giấc mơ của những đứa trẻ nghèo xa quê.
Hà Nội trong mắt người ta có thể là sự hào nhoáng, bon chen hay lạnh lùng. Nhưng với tôi và P., Hà Nội rộng lớn ấy thực ra lại thu nhỏ vừa bằng một góc ngõ Khương Trung - nơi có lòng bao dung của một người mẹ thứ hai, ấm áp, vẹn nguyên và không bao giờ mất dấu./.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Tăng Hoàng Phi. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.