Sự kiện & Bình luận

Hội thảo Khoa học Quốc gia “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị”

Kim Thoa 19:03 07/04/2026

Vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội sẽ tổ chức một hội thảo khoa học quốc gia tập trung vào việc phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, dựa trên Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Mục đích chính là đưa nghị quyết vào thực tiễn, tạo ra một diễn đàn để chia sẻ kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm phát triển văn hóa.

z7426514753355_7a9e6c7d91766fe9ac0c167a9b42a5aa.jpg
Ảnh minh họa

Hội thảo thu hút nhiều học giả, nhà nghiên cứu, giảng viên, các nhà quản lý văn hóa – nghệ thuật, các văn nghệ sĩ trên cả nước tham dự, trao đổi và phát biểu ý kiến. Đại diện Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham dự, phát biểu ý kiến tại Hội thảo.

Ngày 07 tháng 01 năm 2026, Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 80 - NQ/TW về Phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là Nghị quyết đánh dấu bước ngoặt tư duy chiến lược, nâng văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội. Nghị quyết số 80 xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, và nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững, công nghiệp văn hóa trở thành trụ cột tăng trưởng mới.

Là cơ sở đào tạo đại học lớn nhất của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội là trung tâm giảng dạy và nghiên cứu các ngành thuộc lĩnh vực nhân văn, du lịch, báo chí và thông tin. Trường cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước.

Hội thảo đã nhận được 162 tham luận của các nhà nghiên cứu, giảng viên, các nhà quản lý đến từ nhiều cơ quan, đại học, viện nghiên cứu. Các tham luận tập trung bàn luận, trao đổi năm cụm vấn đề chính:

Thứ nhất, vấn đề hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản lý văn hóa. Trong vấn đề này, các nhà nghiên cứu đề nghị đẩy nhanh thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW; bảo đảm tính đồng bộ, liên thông giữa pháp luật về văn hóa với pháp luật về giáo dục, khoa học - công nghệ, đầu tư, tài chính, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, an ninh mạng và thương mại điện tử; chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chỉnh sang tư duy quản trị phát triển; phát huy vai trò kiến tạo của nhà nước; tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh, quản trị văn hóa cần dựa trên dữ liệu, nền tảng số và công cụ giám sát hiện đại, đồng thời chú trọng bản quyền số và an ninh văn hóa trên không gian mạng.

Thứ hai, vấn đề xây dựng hệ giá trị quốc gia và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Vấn đề này nhận được nhiều ý kiến bàn luận sâu sắc, cụ thể và thực tế của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý,... Các ý kiến tập trung vào sự biến đổi trong quan hệ gia đình, tác động của mạng xã hội, nguy cơ phân mảnh giá trị, và sự lệch pha giữa nhận thức và thực hành giá trị. Hệ giá trị cần được kiến tạo trong môi trường sống cụ thể thông qua giáo dục và thực hành.

Thứ ba, vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong xây dựng thương hiệu. Đã có 37 tham luận tập trung thảo luận, gợi mở vấn đề này. Các tham luận nhấn mạnh việc chuyển từ tư duy bảo tồn tĩnh sang bảo tồn động, kết nối di sản với kinh tế sáng tạo, truyền thông số và thị trường du lịch để lan tỏa giá trị di sản. Nhiều trường hợp nghiên cứu cho thấy khi di sản được kết nối đúng cách với kinh tế sáng tạo, với truyền thông số và với thị trường du lịch, giá trị của di sản không bị giảm sút, mà trái lại có thể được lan tỏa mạnh mẽ hơn, đóng góp nhiều hơn cho phát triển.

Thứ tư, vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh. Theo các nhà nghiên cứu, Việt Nam có nhiều tiềm năng trong các lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, nội dung số, game, thiết kế, xuất bản, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn và truyền thông sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo ra công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh thực sự, cần đồng thời giải quyết nhiều điểm nghẽn: hành lang pháp lý; thị trường; bản quyền; hạ tầng số; cơ chế đầu tư; liên kết công - tư; nhân lực trung gian; năng lực quảng bá, phát hành và mở rộng ra thị trường quốc tế. Vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam phải gắn với công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, thương hiệu quốc gia và hội nhập quốc tế; đồng thời phải tạo được những cụm ngành, những ngành mũi nhọn, những địa bàn động lực và những sản phẩm văn hóa có khả năng cạnh tranh, lan tỏa, dẫn dắt thị trường.

Thứ năm, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tạo động lực phát triển văn hóa. Một điểm nhấn quan trọng được nhiều tham luận đề cập là nhu cầu phải đổi mới căn bản tư duy đào tạo nhân lực văn hóa. Nhân lực văn hóa thời kỳ mới phải có ba năng lực đồng thời: năng lực chuyên môn văn hóa - nghệ thuật; năng lực quản trị và tổ chức; năng lực công nghệ, dữ liệu và thích ứng số. Cùng với đó là yêu cầu phát triển văn hóa lãnh đạo, đạo đức công vụ, tinh thần phục vụ, năng lực liên kết đa ngành và năng lực làm việc trong môi trường toàn cầu hóa.

Các tham luận của 5 chủ đề lớn tuy tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, song đã cùng gặp nhau ở một điểm chung rất căn bản: muốn phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới, nhất thiết phải phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội; phải xây dựng con người Việt Nam toàn diện; phải hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực; phải biến di sản thành nguồn lực phát triển; phải thúc đẩy công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo; phải đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời phải bảo vệ bản sắc, an ninh và chủ quyền văn hóa trong môi trường số.

Hội thảo khẳng định vị thế mới của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước, tính liên thông giữa văn hóa với kinh tế, công nghệ, giáo dục và quản trị xã hội. Các tham luận nhấn mạnh sự cần thiết chuyển hóa các quan điểm lớn của Nghị quyết thành thể chế, chính sách và nguồn lực thực chất. Nghị quyết số 80-NQ/TW là một văn kiện chiến lược mở ra tầm nhìn mới cho phát triển văn hóa Việt Nam, đưa văn hóa từ vị trí "quan trọng" trở thành "trung tâm"./.

Kim Thoa