Hà Nội góp phần làm nên bản hùng ca Điện Biên Phủ
Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, kết tinh sức mạnh đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ấy, dù không phải nơi diễn ra trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, quân và dân Hà Nội đã bằng nhiều hình thức đấu tranh chính trị, kinh tế, binh vận và hoạt động quân sự kiên cường, góp phần quan trọng làm nên chiến công vĩ đại của dân tộc.

Hà Nội – hậu phương đặc biệt trong Kế hoạch Nava
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hà Nội giữ vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự, chính trị và hậu cần. Với hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không kết nối các chiến trường, cùng Hải Phòng, Hà Nội trở thành nơi tập trung lực lượng dự trữ chiến lược của thực dân Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ trong Kế hoạch Nava.
Từ nửa cuối năm 1953, Hà Nội là nơi xuất phát của nhiều cuộc hành quân lớn của quân Pháp như nhảy dù xuống Lạng Sơn tháng 7/1953, tiến công Ninh Bình tháng 10/1953 và đặc biệt là cuộc nhảy dù xuống Điện Biên Phủ tháng 11/1953. Thực dân Pháp coi Hà Nội là “kho người, kho của”, ra sức huy động nhân lực, vật lực phục vụ chiến tranh, đồng thời tăng cường củng cố chính quyền tay sai, tuyên truyền lừa bịp nhằm lung lạc tinh thần nhân dân.
Trong bối cảnh đó, phong trào chiến tranh du kích ở các địa phương giáp Hà Nội được đẩy mạnh, tạo thành vành đai du kích áp sát thành phố. Các căn cứ du kích ở Yên Lãng, Đông Anh, Gia Lương, Thuận Thành, Văn Giang, Khoái Châu, Duy Tiên, Lý Nhân, Thường Tín, Phú Xuyên… phát triển mạnh mẽ, hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh của quân và dân Thủ đô.
Dưới sự chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy Hà Nội đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh quyết liệt chống lại các chiêu bài “độc lập”, “hoàn bị độc lập” mà thực dân Pháp và chính quyền bù nhìn dựng lên. Những hoạt động như ban hành “Luật Lao động”, “Luật Tự do nghiệp đoàn”, “Cải cách điền địa”, “Cải cách giáo dục” hay việc lôi kéo trí thức lập “chính phủ liên hiệp dân chủ” đều bị nhân dân vạch trần bản chất phản động.
Phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi trong lòng địch
Thực hiện các nghị quyết của Trung ương về công tác vùng địch hậu và công vận vùng tạm chiếm, Thành ủy Hà Nội đã đề ra nhiều chủ trương cụ thể nhằm phát huy thắng lợi của chiến trường, vạch trần âm mưu của địch, đẩy mạnh phong trào quần chúng và tăng cường hoạt động phá hoại quân sự để phối hợp với chiến trường chính.
Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, phong trào đấu tranh chống bắt lính diễn ra mạnh mẽ trong nội thành. Thanh niên bí mật cam kết không đi lính; học sinh phản đối quân sự hóa học đường, không tham gia các kỳ tuyển sĩ quan. Hoạt động binh vận cũng được triển khai linh hoạt thông qua các “nhóm đồng hương”, “nhóm tâm giao”, vận động binh lính Âu, Phi đào ngũ, phản chiến.
Nhiều cuộc phản kháng đã nổ ra trong hàng ngũ ngụy binh. Hơn 1.000 binh lính đóng tại nhà máy gạch Hưng Ký phá rào, phản đối chỉ huy; nhiều tốp binh lính quay súng trở về với nhân dân. Các cơ sở cách mạng đã tổ chức tiếp đón, đưa dẫn binh lính bỏ hàng ngũ ra vùng tự do.
Song song với đó, phong trào đấu tranh của công nhân, viên chức và các tầng lớp nhân dân diễn ra rộng khắp. Công nhân ga Hà Nội, nhà máy điện, nhà máy nước, nhà máy rượu, Sở Lục lộ… liên tiếp đấu tranh đòi tăng lương, tăng phụ cấp theo giá sinh hoạt. Phong trào đấu tranh của tiểu thương, đặc biệt là chị em phụ nữ tại các chợ Đồng Xuân, Hôm, Cửa Nam, Hàng Da… diễn ra quyết liệt, buộc chính quyền phải nhượng bộ về chính sách thuế.
Các hoạt động đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hóa, chống bắt lính, đòi cải thiện dân sinh đã tạo khí thế mới cho phong trào cách mạng ở vùng địch hậu, làm cho hậu phương của địch luôn trong tình trạng bất ổn, góp phần phối hợp hiệu quả với các chiến trường lớn.
Những trận đánh trực tiếp chi viện chiến trường Điện Biên Phủ
Cùng với đấu tranh chính trị và binh vận, quân và dân Hà Nội đã triển khai nhiều hoạt động quân sự táo bạo nhằm trực tiếp đánh vào hệ thống hậu cần, tiếp tế của quân Pháp cho chiến trường Điện Biên Phủ.
Xác định sân bay Gia Lâm là đầu mối hậu cần quan trọng của cầu hàng không tiếp viện cho Điện Biên Phủ, Thành ủy Hà Nội đã chủ trương tổ chức tập kích sân bay này. Sau quá trình điều tra, trinh sát công phu cùng sự phối hợp của nhân dân các địa phương giáp sân bay, đêm 3 rạng sáng 4/3/1954, lực lượng vũ trang Hà Nội phối hợp với dân quân địa phương bất ngờ tập kích sân bay Gia Lâm, phá hủy 18 máy bay và đốt cháy kho xăng lớn của địch.
Chiến công ấy đã góp phần quan trọng cắt giảm khả năng tiếp tế đường không của thực dân Pháp cho cứ điểm Điện Biên Phủ trước thời điểm khai chiến. Tiếp nối thắng lợi đó, quân và dân Hải Phòng đã tập kích sân bay Cát Bi đêm 7/3/1954, phá hủy hơn 50 máy bay các loại, làm tê liệt thêm một mắt xích hậu cần quan trọng của quân Pháp.
Trong thời điểm chiến sự Điện Biên Phủ diễn ra ác liệt, quân Pháp buộc phải tăng cường vận chuyển vũ khí, hậu cần bằng đường sắt từ Hải Phòng lên Hà Nội để tiếp tế cho mặt trận. Chiều 4/4/1954, quân và dân Gia Lâm đã đánh lật đoàn tàu gồm 13 toa chở vũ khí, quân lương, gây thiệt hại nặng cho địch. Cuối tháng 4/1954, công nhân Sở binh lương Xi ta đen tiếp tục đốt cháy kho hàng nghìn chiếc dù cùng nhiều quân trang chuẩn bị đưa lên Điện Biên Phủ.
Các hoạt động binh vận cũng được đẩy mạnh trong giai đoạn quyết liệt của chiến dịch. Ban Địch vận Mặt trận Hà Nội đã tổ chức in truyền đơn, giấy thông hành, vận động binh lính đào ngũ. Nhiều cuộc bãi binh xảy ra tại các đơn vị đóng ở Trường Bưởi, Việt Nam học xá và khu vực sân bay Bạch Mai, nơi có hơn 1.000 binh lính đào ngũ.
Những hoạt động liên tục ngay trong lòng địch đã khiến bộ máy quân sự và hậu cần của thực dân Pháp bị rối loạn, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ – đỉnh cao của chiến tranh nhân dân
Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 không chỉ đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương mà còn buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam.

Thắng lợi ấy là kết quả của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra. Trong suốt 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ, cả dân tộc đã dồn sức cho tiền tuyến với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.
Hơn 260.000 lượt dân công hỏa tuyến đã tham gia vận chuyển lương thực, đạn dược, làm đường, tải thương; hàng chục nghìn phương tiện vận tải được huy động phục vụ chiến dịch. Đồng bào cả nước đóng góp hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm cho mặt trận.
Trên chiến trường, thế trận chiến tranh nhân dân được phát huy mạnh mẽ với sự phối hợp của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Những đòn tiến công liên tiếp trên khắp các chiến trường Đông Xuân 1953-1954 đã buộc quân Pháp phân tán lực lượng, đưa Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung binh lực lớn nhất và cuối cùng bị tiêu diệt.
Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng mở màn chiến dịch. Sau ba đợt tiến công liên tiếp kéo dài gần hai tháng, đến 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt sống, chiến dịch toàn thắng.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thế kỷ XX; đồng thời trở thành biểu tượng của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ.
Phát huy tinh thần Điện Biên Phủ trong thời đại mới
Kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ôn lại truyền thống vẻ vang của dân tộc, tri ân các thế hệ cha anh đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
72 năm đã trôi qua nhưng những bài học từ Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn nguyên giá trị. Đó là bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; về tinh thần tự lực, tự cường, độc lập, sáng tạo trong mọi hoàn cảnh.
Đó còn là bài học về củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; về vai trò của công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, nhất là đối với thế hệ trẻ hôm nay.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, tinh thần Điện Biên Phủ tiếp tục là nguồn động lực to lớn để đất nước vượt qua khó khăn, thách thức; phát huy khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của ý chí độc lập dân tộc và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bản hùng ca vĩ đại ấy, quân và dân Hà Nội đã góp phần xứng đáng bằng tinh thần chiến đấu kiên cường, mưu trí, sáng tạo, làm nên dấu ấn vẻ vang trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam./.