Văn hóa – Di sản

Độc đáo lễ hội chùa Nành

Nguyễn Thị Tô Hoài 16:49 23/05/2026

Chùa Nành (xã Phù Đổng, thành phố Hà Nội) còn gọi là chùa Cả, có tên chữ là Pháp Vân cổ tự hoặc chùa Đại Thiền. Chùa thờ bà Pháp Vân, người đứng đầu trong hệ thống Tứ Pháp được thờ ở Việt Nam. Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1989.

Quần thể kiến trúc chùa Nành được xây dựng với quy mô khá lớn, gồm 104 gian lớn nhỏ. Tổng thể các công trình gồm thủy đình, tam quan, tiền đường, cầu, tam bảo, tả vu, hữu vu, nhà Tổ, điện Mẫu và khu phụ trợ.

Hệ thống tượng trong chùa Nành hiện nay có 116 pho tượng Phật, tượng Mẫu và tượng Hậu được tạo tác tỉ mỉ, mang dáng dấp nghệ thuật của đủ các thời đại từ thế kỷ XVI đến nay. Bộ tượng đáng chú ý nhất thuộc thế kỷ XVI là bộ tượng Tam thế Phật có chiều cao 8.80m, đặt trên tòa sen có đế cao 0.70m. Vẻ mặt tượng toát lên sự từ bi, đôn hậu, ngực tượng được trang trí hàng dây “anh lạc” với đường vân xoắn tròn hình dạng chữ “vạn”.

anh-1a.jpg
Cổng ngũ môn chùa Nành.

Ngoài tượng Tam thế thì còn có tượng Tuyết Sơn (cao 0.73m), tượng Bát Bộ Kim Cang (cao 1.56m), tượng Thập Điện Minh Vương (cao 1.35m), tượng Thập Bát La Hán (cao 1.08m)… Tượng Thập Bát La Hán được xếp đặt ở hành lang của chùa còn được gọi là tượng các vị Tổ truyền đăng (tức những vị Tổ tiếp nối ánh sáng của Phật truyền đạo cho đời). Ngoài hệ thống tượng, trong chùa còn có nhiều di vật khác là bia đá, chuông đồng, khánh đồng, thần phả, sắc phong từ các đời Mạc - Lê - Tây Sơn - Nguyễn.

Về vị trí và thời điểm khởi dựng chùa, theo hồ sơ di tích chùa Nành và hồ sơ di tích Thạch Sàng (xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội) thì tương truyền vào năm 187 có nhà sư Khâu Đà La người Ấn Độ đã sang Việt Nam truyền đạo Phật. Đến đất làng Nành, cảm mến cảnh quan nơi đây nên ông chọn dừng chân, vừa truyền đạo, vừa giúp dân xây dựng am thờ Phật trên khu gò đất cao, chính là nơi khởi xướng của chùa Nành ngày nay. Đến thời nhà Lý, chùa chính thức được xây dựng và có tên là Đại Thiền tự.

Sau này chùa Đại Thiền đổi tên là Pháp Vân cổ tự gắn liền với việc dân làng đưa bà về thờ trong chùa, đồng thời gọi bà theo tên dân gian là bà Nành và tên chùa là chùa Nành. Theo Phả Ký chùa Đại Thiền ghi lại thì vào thời Tiền Lê có rước tượng Pháp Vân từ chùa Dâu về thành Đại La để làm lễ cầu đảo. Sau khi trời đã cho mưa thuận bèn rước trả lại chùa Dâu, nhưng đến chùa Dâu thì không thấy tượng đá Thạch Quang đâu nữa. Bỗng trong chùa làng Nành có ánh sáng lạ, Phật tử ra xem thì ra trên chạc cây mận ở vườn chùa có Thạch Quang Phật ở đó, liền đốn cây mận thành tượng Pháp Vân để thờ cúng, từ đó rất linh ứng. Cũng từ đấy chùa thờ bà Pháp Vân và được xem là một trong bốn ngôi chùa thờ Tứ Pháp lớn nhất miền Bắc nước ta.

Thuở trước, dân làng Nành lấy ngày ngày 17 tháng Giêng là ngày bà Pháp Vân chầu Phật để mở hội, quy mô hội khá lớn trở thành hội hàng Tổng của cả tổng Nành. Năm Quý Tỵ - 1775, các quan lại của tổng Nành thống nhất tạo văn khắc “Bản tổng đại hội các lệ” (khắc năm) quy định về việc tổ chức lễ hội chùa Nành và lấy từ mồng 4 đến mồng 6 tháng 2 âm lịch hằng năm làm ngày mở hội và cứ 5 năm thì lại tổ chức lễ hội có quy mô lớn gọi là hội Đại.

Lễ hội chùa Nành vốn nổi tiếng với trò nâng Phan độc đáo vào trước ngày khai hội. Lá Phan ở chùa Nành gắn với một truyền thuyết riêng của làng mà hầu như người làng Nành ai cũng biết. Theo kể lại, ngày xưa ở làng Nành có người đàn ông (cũng có người kể là người đàn bà) lái đò ở bờ sông Thiên Đức (sông Đuống ngày nay), người này chỉ có 2 cái khố, 1 cái khố lành và 1 khố rách đang mặc. Một ngày dân làng kêu gọi quyên tiền ủng hộ xây dựng chùa Pháp Vân (chùa Nành), người này có tâm nên mới quyên chiếc khố mới. Nhưng dân làng lại cho là báng bổ, người này chỉ biết giãi bày và chứng minh bằng cách mổ bụng, moi ruột ra cho mọi người thấu được tấm lòng. Sau đó mọi người hiểu chuyện, làm lễ giải oan cho người lái đò, hàng năm mở hội có lễ treo lá Phan (hình tượng trưng của cỗ lòng) để nhắc nhở tấm lòng thanh tịnh chân thành khi hướng về Tam Bảo, ngay cả cái khố che thân cũng có thể biến thành món lễ cúng dàng ở nơi tâm.

anha-3.jpg
Đám rước trong lễ hội chùa Nành.

Việc tổ chức lễ hội ngày nay được Ủy ban nhân dân xã giao cho Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã phụ trách và phối hợp cùng các ban, ngành để tổ chức. Khai hội là lễ nhập tịch diễn ra vào tối 4 tháng 2 bắt đầu bằng Lễ giảng Phật điều, tức 10 điều răn dạy của đức Phật đối với chúng sinh; Lễ tiến cúng là một biến thể của lễ thập cúng gồm 10 lễ vật hương, hoa, đăng, trà, quả, thực, thủy, bảo, chân, y (cây hương, cây hoa, cây đèn, mâm trà, quả bưởi, mâm cau, bình nước, dừa, vật báu như hổ phách, mã não, ngọc châu, vóc đại, hồng). Các lễ vật được chuẩn bị từ nhiều ngày trước và trang trí đẹp.
Sáng mùng 6, các vãi chia nhau đi quyên các loại hoa quý đem về Thạch Sàng hoặc nhà Mẫu tết thành từng dây hoa dài khoảng 1 mét, vắt lên cây hoa có khung sẵn. Hai vị sư mũi áo thực hiện đại lễ tiến dâng. Mở đầu hai vị sái tịnh lễ vật, tức là tẩy rửa bụi trần để lễ vật trở nên thanh khiết, bằng mười ngón tay kết thành 10 hình gọi là kết ấn, đó là các ấn Tam Sơn (Tam Bảo), Ngũ nhạc, Quan Âm, Chuẩn Đề và 6 chữ hương, hoa, đăng, trà, quả, thực. Điều đặc biệt là tay kết ấn nào thì chân đi theo chữ đó, thể hiện ý nghĩa kính cáo trước với Phật về các lễ vật dâng tiến, sau đó mới tiến từng lễ vật một; lễ vật nào đi theo hình chữ đó khi cúng là sản phẩm dâng lên Đức Phật ngày đầu xuân.

Lễ rước từ các đình, miếu trong làng (gồm 5 đoàn của 2 miếu: miếu Thượng - thôn 3; miếu Trung - thôn 4 và 3 đình: đình Hạ - thôn 6; đình Ninh Giang - thôn 8; đình Hiệp Phù - thôn 9) về chùa vào ngày mồng 5 tháng 2 cũng là một phần hoạt động rất độc đáo của lễ hội chùa Nành hằng năm. Việc chuẩn bị rước lễ lên chùa quy về cho các cửa đình, cửa miếu và do Ban khánh tiết các cửa đình, cửa miếu đứng ra lo liệu. Điều đặc biệt trong các đoàn rước ở lễ hội chùa Nành xưa nay là luôn có đội múa sinh tiền do các đồng nữ của các thôn xóm theo rước làm nền rất náo nhiệt. Hiện nay, hầu như thôn nào trong xã cũng có đội múa sinh tiền riêng; nếu vào ngày hội các thôn chưa kịp tập luyện thì đội múa sinh tiền của xã sẽ hỗ trợ các đoàn rước từ các cửa đình, cửa miếu lên chùa.

Bên cạnh các hoạt động tế lễ thì trong hội chùa Nành còn có các hoạt động văn hóa, nghệ thuật khác như biểu diễn tuồng cổ, biểu diễn chèo, giao lưu thơ Xuân với các câu lạc bộ, trưng bày viết thư pháp Hán Nôm, trưng bày cổ vật, trưng bày cây cảnh nghệ thuật, hát quan họ; thi đấu cầu lông, vật cổ truyền, thi đấu bóng bàn, thi đá cầu, cờ tướng, tổ tôm điếm, thi đấu bóng chuyền hơi người cao tuổi, đồng diễn thể dục dưỡng sinh, thi đấu Tennis, giao hữu bóng đá, tổ chức các điểm mô tô bay, xích đu, quay xe điện... Các trò thi đấu thể thao như đấu vật, bóng chuyền, bóng bàn, thi đấu cờ vua, cờ tướng… thường thu hút được sự tham gia của các vận động viên là tuyển thủ thuộc các câu lạc bộ quốc gia đã từng giành giải cao trong các kỳ thi đấu.

Từ sau khi đất nước đổi mới đến nay, xã Ninh Hiệp nổi danh là một “thủ phủ” buôn bán quần áo, vải vóc, phụ liệu cho ngành may mặc, thời trang. Vì vậy, trong làng luôn nhộn nhịp, cảnh buôn bán trong làng cũng như xung quanh chùa Nành lúc nào cũng tấp nập, không chỉ ngày thường mà cả ngày lễ./.

Nguyễn Thị Tô Hoài