Đường đi nước bước của một thể loại văn học
Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
Văn học giả tưởng khôi phục vị thế, vì sao?
Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó). Vì thế, trong thực tế diễn ra tình hình khi tiếp nhận tinh hoa văn học thế giới và Việt Nam độc giả vẫn nghiêng về yêu thích hơn các nhà hiện thực khổng lồ như Balzac, Dostoyevsky, Lỗ Tấn, Hemingway, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... Ngay các nhà văn Việt Nam thời đương đại vẫn nghiêng cảm tình với sáng tác tuân theo nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực “Xây dựng những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình”. Một dẫn chứng tiêu biểu: khi Nguyễn Minh Châu viết tiểu luận - chân dung có tựa “Nam Cao” (Nguyễn Minh Châu toàn tập, 5 tập, tập V, NXB Văn học, 2001) thì hẳn là hậu thế khả úy đã coi nhà văn hiện thực phê phán lừng danh này là bậc thầy văn chương, là “mã văn hóa” sáng tạo.
Tuy nhiên, như một nghịch lý, khi internet đã tạo nên một thế giới phẳng và mở làm cho thông tin phủ sóng thậm chí bội thực người đọc, việc đi tìm sự thật đã trong tầm tay, thì cả tác giả lẫn độc giả lại có cái tâm lý thường trực khao khát “đi tìm thực tại khác”, dẫu đôi khi hoang đường, hoang tưởng, vì thế mà sinh thành một kiểu “Văn học giả tưởng” (fiction literature). Không vô cớ hay ngẫu nhiên độc giả trên phạm vi thế giới lại say mê đọc “Tây du ký” của nhà văn Trung Quốc Ngô Thừa Ân, “Hai vạn dặm dưới biển” của nhà văn Pháp Jules Verne. Lại càng đáng chú ý hơn là hiện tượng văn chương kỳ ảo/ giả tưởng “Harry Potter” của nhà văn Anh J.K Rowling đã “phủ sóng” trên toàn cầu.

Văn học giả tưởng liên quan đến các phạm trù khác như cái kỳ ảo (fantasy), hay khoa học viễn tưởng (science fiction). Khi nhân loại đang ở trong lòng cuộc cách mạng 4.0 thì những vấn đề có tính truyền thống của các lĩnh vực khoa học cụ thể có thể không đáp ứng nhu cầu tri nhận thế giới khách quan một cách hoàn mỹ. Chính tình huống đó khiến cho cơ hội thực tế để “Văn học giả tưởng” trở lại vị thế cần thiết và có cơ đồ lên ngôi, thống ngự trong tương lai gần và xa.

Có thể nói, chính “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” phát tích ở Mỹ Latinh (người đại diện vĩ đại là G. Marques và kiệt tác “Trăm năm cô đơn”) đã hiển nhiên là cầu nối giữa văn học hiện thực chủ nghĩa và văn học giả tưởng. Vì thế, nhà văn viết văn học giả tưởng phải là người có năng lực tưởng tượng phi phàm. Người viết phải giỏi về tri thức khoa học tự nhiên (thiên văn học, vũ trụ học, hải dương học...); đồng thời phải am hiểu về các ngành khoa học khác (khảo cổ học, nhân chủng học, kinh tế học, khoa học dự báo...), lại càng phải giỏi chữ nghĩa vì rút cục “Văn học là nghệ thuật ngôn từ”. Họ còn có thể là một đạo diễn lừng danh chuyên dàn dựng các vở kịch phi lý. Xét cho cùng, văn học giả tưởng chứa chất đầy những phi lý.
Văn học giả tưởng có một kiểu độc giả riêng của mình. Theo lý thuyết tiếp nhận, đó là những khách hàng với tinh thần/ nguyên tắc “đồng sáng tạo” giữa tác giả và độc giả (như dân gian nói đến mức “đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu”). Quan sát sự đọc văn hiện nay sẽ thấy hình thức fantasy (kỳ ảo/ giả tưởng) đang hút khách.
Những thể nghiệm tiểu thuyết thành công bước đầu
Việc điểm danh và bình chú về một số tiểu thuyết trong những trường hợp sau đây chỉ mang tính chất trình diện một góc nhìn đang được mở rộng theo thời gian trong quá trình tìm tiếng nói chung.
“Bãi săn” (NXB Văn học, 2018) được xếp vào hàng best-seller của Nguyễn Đình Tú với ý tưởng làm mới táo bạo, chuyển từ lối viết truyền thống có phần nệ thực như “Hồ sơ một tử tù”, “Phiên bản”, “Xác phàm”... sang fantasy. Bãi săn gồm hai phần cân đối và hấp dẫn “Giếng cổ” và “Phản đồ” với những câu chuyện đan cài thực và ảo về những không gian, thời gian sống lùi về quá khứ hàng ngàn năm với đặc thù của các “phường săn” và “thợ săn”. Những câu chuyện về trừ ma, diệt quỷ, hàng yêu, yểm quái, giữ gìn long mạch tạo nên một bầu không khí phiêu diêu, hư ảo, thần kỳ, thần tiên trong phạm trù thần thực. Tác giả tuy nhiên cũng không giấu giếm ý đồ việc viết theo “đơn đặt hàng” của thị trường, yêu cầu của văn học đại chúng, đề cao tính chất giải trí như một nhu cầu có tính thời thượng. Với “Bãi săn”, tác giả đã đem lại một cái nhìn về lịch sử mang dấu ấn của huyền sử, huyền tích hay nói theo cách của sử gia Trung Quốc Tư Mã Thiên là “sử sống” (lịch sử trong chính niệm dân gian).

“Thiên hà cổ vật” (NXB Hội Nhà văn, 2022) của Phạm Xuân Hiếu gợi mở năng lực “thông linh” giữa các sự vật trong thế giới. Câu chuyện được kể trong “Thiên hà cổ vật” là hoàn toàn hoang đường, thần tiên thuộc phạm trù của folklore (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích thần kỳ). Rõ ràng khi viết, tác giả đã xuất phát từ một bệ phóng, tạm gọi là “cái khả nhiên” (cái có thể có). Câu chuyện về cổ vật/ báu vật có xuất xứ từ vũ trụ bị chôn vùi dưới sa mạc châu Phi từ 4,5 tỷ năm trước về sau luôn luôn có hấp lực mê dụ, được giới chơi cổ vật trên khắp thế giới săn tìm và mua bán. Đúng là kim cổ giao duyên. Chuyện đời xưa với đời nay nếu xét về cạnh tranh, lợi nhuận thì trước sau cũng đều là những phiên bản. Nhân vật của “Thiên hà cổ vật” có siêu hình (một là vị thần trên vũ trụ, hai là linh hồn người lính dưới âm phủ), có hữu hình (thầy trò Thiên Định - Phong Điền).
Có vẻ như tác giả “Thiên hà cổ vật” muốn “chạm” đến cái gọi là năng lực “thông linh” đang được chú ý khi bàn về thế giới tâm linh (các tôn giáo đang phủ sóng thực thể tinh thần này). Khám phá thế giới tâm linh là phải hướng nội sự viết. Nhưng hình dung ra sự “bang giao” của con người trái đất với người ngoài trái đất (dẫu trong hình hài nào), con người thời kim và thời cổ (theo kiểu mẫu nào) thì cũng cơ bản hướng ngoại. Rõ ràng không gian sinh tồn của con người ngày càng nới rộng kích tấc và hầu như biên giới (cương vực lãnh thổ địa lý) được dần dần xóa bỏ. Con người rồi sẽ tiến tới trở thành những “công dân toàn cầu”, hơn thế những “công dân thiên hà” (dịch vụ du lịch trong khoảng không vũ trụ là hiện thực). Trái đất có vẻ dường như ngày càng chật chội với 8 tỷ người. Của cải (tài nguyên vốn có cũng như sản vật làm ra hằng ngày) sẽ dần cạn kiệt vì lòng tham vô độ của con người. Con người trong bản chất của nó là chủ thể tạo ra những điều tốt đẹp nhất cũng như những điều tồi tệ nhất, trong đó có dục vọng chiếm đoạt cổ vật.

“Câu chuyện của Nàng Thê” (NXB Hội Nhà văn, 2022) của Võ Thị Xuân Hà lại mang dáng dấp của kiểu truyện huyền kỳ, thần thực khác lạ. Nhà văn đã kể một câu chuyện về những “sat-na” (“kiếp đoạn” - một phạm trù thời gian theo cảm thức Phật giáo). Thông qua câu chuyện của Nàng Thê - nhân vật chính để phát hiện ra một thế giới của con người và sự vật không phải là “vô thần” mà là “hữu thần”, nó luôn chứa đựng tính chất “luân hồi” như cách tác giả “rao” là twin flame (linh hồn song sinh hay là linh hồn phản chiếu). Rõ ràng là Nàng Thê cũng như các nhân vật khác trong tiểu thuyết không thể tìm thấy nguyên mẫu trong đời sống hiện thực, chỉ có thể trong trí tưởng tượng mãnh liệt vô tiền khoáng hậu của nhà văn trong bước chuyển từ nệ thực sang thần thực. Cuộc sống của Nàng Thê trải qua bao cảnh ngộ, trạng huống, thăng trầm có đủ là bởi sự “bày đặt” táo bạo và khéo léo của nhà văn theo phương châm ứng xử với độc giả “tin thì tin không tin thì thôi”. Câu chuyện của Nàng Thê là câu chuyện về sự bất tử của linh hồn, một dạng thức khác của sự sống theo quan điểm mở, có tính duy linh. Phải chăng sự sống của con người bao gồm có cả hiện hữu, hiện hình, có cả “hóa kiếp”, “đầu thai” (?!). Trong trường hợp này chúng ta chưa vội bàn luận hay kết luận về chuyện “đúng”, “sai”, “duy vật” hay “duy tâm” mà chú tâm đến việc văn chương ngày nay đã mở mang thêm những cánh cửa vô biên và hữu dụng nào dẫn dắt con người vượt qua phên giậu của “bất khả tri”, tiềm nhập vào thế giới có tính vô cực nhân sinh.

“Sống dưới ánh mặt trời” (NXB Hội Nhà văn, 2024) của Viên Kiều Nga được xem như một bảo chứng cho sự tồn tại có tiền đồ của văn học giả tưởng trên văn đàn Việt Nam đương đại. Tác phẩm đã dẫn dắt người đọc có cơ hội tạm thời thoát khỏi cõi thực để thám hiểm vào cõi mộng với những trường đoạn đầy sự mê dụ như “linh hồn xuyên không”, “ hố từ thần”, “ người cõi âm”, “ đôi cánh thiên thần”, “kiếp trước”, “ở một thế giới khác”... “Sống dưới ánh mặt trời” chính là câu chuyện về sự tái sinh của linh hồn (hay một dạng của “trường sinh bất tử”) trên một cơ thể mới, diện mạo mới, xuyên qua mọi thời gian, không gian, vượt qua ranh giới sinh tử không giới hạn. Nhân vật chính (Mã số TTNL-021247) xưng “tôi” kể chuyện, có thể hiểu như là một “nhân sinh kép” giữa sự sống thực có tính bản nguyên và thành tựu của AI (Trí tuệ nhân tạo). Đó là cuộc hôn phối giữa tự nhiên vô can và thành tựu của khoa học kĩ thuật tạo nên những “trí tuệ năng lượng”. Viên Kiều Nga đã thực hành một lối viết du dương, linh hoạt, có nhịp điệu văn xuôi của một cây bút nữ trẻ thế hệ 9X. Tác phẩm đoạt Giải khuyến khích Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ nhất của Thời báo Văn học nghệ thuật, giai đoạn 2023 - 2025.

Lời kết
Hiện đang có tranh luận về cách đặt tên (duy danh định nghĩa) cho “Văn học giả tưởng” thuộc hình thức nghệ thuật nào, thuộc thể loại văn học nào, đã đủ yếu tố trở thành một dòng riêng giữa nguồn chung? Nhưng xét cho cùng thì “Văn học giả tưởng” là một phương cách đạt tới hiệu năng - hiệu lực- hiệu quả trong quá trình tiếp cận chân lý đời sống thông qua hình tượng nghệ thuật ngôn từ. Nó hướng con người đến chính niệm trong thế giới tâm linh khi nhu cầu trở về với bản thân trở nên quan thiết hơn bao giờ hết. Giả tưởng cũng là một cách thức để con người trở về với bản thể, bản ngã, bản năng theo quan niệm của thuyết “Nhân vị” tối cao./.