Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Anh mãi tìm em giữa lòng Hà Nội

Bùi Nhật Lai 10:46 27/05/2026

Có những ký ức không bao giờ cũ. Càng đi qua năm tháng, chúng không mờ đi mà chỉ lắng sâu hơn, như một thứ trầm tích của tâm hồn con người, càng chạm vào càng đau, càng nhớ lại càng thấy lòng mình bâng khuâng, xao xuyến. Hà Nội trong tôi không chỉ là phố, là hồ, là mùa mà Hà Nội còn có cả em. Và em là cả một thời tuổi trẻ tôi đã sống, đã yêu thương, đã đợi chờ, và đã mất em!

14111873_1239129482784796_1324814577_n.jpg
Ảnh minh họa, nguồn: internet

Những năm tám mươi của thế kỷ trước, khi tôi còn là một chàng sinh viên tỉnh lẻ từ Thái Nguyên về, Hà Nội trong mắt tôi khi đó vừa gần, lại vừa xa. Gần vì chỉ cách một chuyến xe hơn trăm cây số, nhưng xa bởi những định kiến, bởi những khoảng cách vô hình mà con người dựng lên. Người Hà Nội khi ấy vẫn nghĩ Thái Nguyên như một miền rừng thiêng nước độc, xa xôi, lạc hậu, hoang dã. Và tình yêu của tôi, với một cô gái phố Thụy Khuê, Hà Nội dường như là điều không thể bởi những định kiến về dân quê rất phổ biến và nặng nề.

Nhưng tình yêu, có bao giờ chịu nghe lời lý trí? Đời đã đem tôi đến gặp và yêu em, em cũng yêu tôi mà không hề nghĩ gì đến rào cản cách ngăn bởi không gian địa lý và môi trường sống, em sẵn sàng theo tôi về Thái Nguyên, những chuyến đi thời đó chen chúc trên những chuyến xe mà nhiều khi suốt cả chặng đường trăm cây số người ta chỉ có thể đứng một chân, mỏi thì lại đổi chân. Cả gần trăm người chen chúc trên chiếc xe ca Ba Đình cà tàng cũ nát, trên nóc chất đầy hàng hóa... Tôi vẫn nhớ như in những chuyến xe như thế tôi vẫn đi về gặp em mỗi tháng đôi lần. Những buổi chiều đông, khi gió bấc tràn về hun hút, mang theo những cơn mưa phùn mỏng như tơ. Tôi nép mình bên con phố Thụy Khuê ẩm ướt, lạnh buốt, dưới ánh đèn vàng vọt từ những cột điện cũ kỹ hắt xuống mặt đường loang loáng nước. Tôi đứng đó, dưới một trụ đèn quen thuộc, trước khu tập thể số nhà 12 nơi em ở. Người qua lại lác đác, bóng người chìm trong mưa bụi, ai cũng vội vã co mình trong áo rét mỏng manh, còn tôi thì đứng yên, như một cái bóng, mặc cho mưa thấm dần vào áo, lạnh buốt từng thớ thịt. Tôi chờ em ra. Những phút chờ đợi nó dài như vô hạn, bao yêu thương, bao lời yêu thương, ấp ủ muốn nói tôi dành cho giây phút gặp lại em. Giây phút ấy vừa nóng ruột vừa hồi hộp.

Cái lạnh của Hà Nội không giống cái lạnh miền núi. Nó không dữ dội mà dai dẳng, len lỏi, thấm buốt vào tận da thịt, mỗi lúc thêm lạnh hơn. Nhưng cái lạnh ấy không đáng sợ bằng nỗi chờ đợi. Tôi đứng đó, mắt dõi về phía cổng khu tập thể nhà em, tôi dõi theo nhìn từng chuyển động của những bóng người vào ra trong cổng, chỉ mong một dáng hình quen thuộc bước ra. Có những đêm tôi chờ hàng giờ, chân tê cứng, tay run lên vì rét, nhưng lòng lại nóng như lửa. Trong đầu bao suy diễn nảy ra. Hay em quên lời dặn, hay em bận làm thêm, hoặc em ốm chăng ? Hàng trăm câu hỏi cứ thế hiện ra trong đầu. Rồi em xuất hiện. Chỉ cần một dáng đi, một chiếc khăn quàng, một tiếng reo nhỏ của em, tôi nhận ra em giữa cả con phố dài. Em bước ra từ bóng tối, khuôn mặt ửng lên vì lạnh, mái tóc hơi ướt vì mưa. Khoảnh khắc ấy, mọi rét buốt trong tôi tan biến. Tôi không còn cảm thấy mình đang đứng giữa mùa đông nữa, chỉ thấy trái tim mình đập dồn dập, như muốn vỡ ra. Em dừng xe đạp trước mặt tôi. Chỉ chờ có vậy tôi dang tay đón em. Em trao xe cho tôi, tạm dựng xe bên cột điên, chúng tôi xà vào nhau, những nụ hôn nồng ấm trao nhau gấp gáp, vội vã. Những nụ hôn sưởi ấm hồn tôi, khiến tôi đê mê cuồng si, bao rét mướt, lo toan vụt tan biến... tôi yêu em vô ngần!

Em khẽ buông tôi ra, khẽ cười nũng nịu và những câu hỏi han lo lắng hết sức chân tình khiến tôi thấy em như một thiên thần hộ mệnh của mình vậy. Tôi lòng tràn đầy hạnh phúc. Nụ cười ấy, đến tận bây giờ, vẫn là điều trong trẻo nhất mà tôi từng biết, từng khiến tôi nhớ em đến phát điên, phát dại. Tôi không biết nói gì, chỉ biết nắm lấy tay em. Bàn tay nhỏ mềm mại đang truyền sang tôi hơi ấm trong cái rét ngày đông. Tôi kéo em vào lòng, ôm thật chặt, như sợ rằng nếu buông ra, em sẽ tan vào màn mưa phùn ấy mà biến mất. Có những cái ôm không phải để giữ, mà để nhớ. Tôi đã ôm em như thế, trong những đêm Hà Nội lạnh cắt da, trong khi lòng mình lại nóng đến nghẹn thở.

Chúng tôi yêu nhau lặng lẽ. Không dám công khai, không dám hứa hẹn xa xôi. Chỉ là những buổi gặp chớp nhoáng, những lần nắm tay, những ánh nhìn giấu kín và trao nhau những cái hôn dài vội vã trong màn đêm Hà Nội. Nhưng càng bị ngăn cấm, tình yêu ấy lại càng cháy bỏng. Những ngày chủ nhật em đạp xe đến nhà trọ khu bến Nứa gặp tôi, chúng tôi có cả một buổi sáng dành cho nhau, tôi đạp xe đèo em đi dạo khắp các con phố từ đường Hoàng Hoa thám, Trần Phú rợp bóng sấu, những lá sấu rơi đêm hè vàng rực mặt đường, rồi đường Thanh niên thẳng dọc ven hồ. Đường Lò Đúc với những cây sao trăm tuổi dáng thẳng vươn cao giữa trời Hà Nội... rồi chúng tối ghé vào công viên, tìm một chiếc ghế khuất xa một góc, em ngả đầu vào vai tôi, thủ thỉ bao điều thương nhớ. Có nhiều lần em đã khóc nói rằng rất buồn khi phải xa tôi...

Mỗi cuối tuần, tôi lại bắt xe từ Thái Nguyên xuống Hà Nội. Những chuyến xe thời ấy không dễ dàng như bây giờ. Đường xấu, xe ít, người đông. Tôi phải chen lấn, xếp hàng từ sớm, nhiều khi đứng hàng giờ chỉ để mua được một tấm vé. Nhiều lần không mua được, phải đi vé chui đắt gấp 3,4 lần mà không có ghế tôi phải đứng bám cửa xe, mặc cho gió tạt vào mặt, bụi đường bám đầy áo. Đã có lần kẻ gian móc sạch ví và giấy tờ tùy thân. Nhưng tôi chỉ cần được gặp em, mọi vất vả đều trở nên nhẹ tênh. Tình yêu của em tiếp năng lượng cho tôi vượt qua tất cả.

Tôi đến Hà Nội, mang theo trong lòng cả một tuần chờ đợi. Mỗi bước chân trên phố như gần hơn với em, nhịp tim như dồn đập mạnh hơn. Và rồi lại đứng dưới cột đèn ấy, lại chờ, lại hy vọng. Ngày đó báo Tiền phong đang đăng truyện ngắn dài kỳ: “Hương hoa ngọc lan”. Chuyện kể về đôi trai gái yêu nhau, họ xa cách bởi chiến tranh, người con trai hằng ngày hành quân, mỗi bước chân, anh cảm giác như khoảng cách giữa anh và người yêu rút ngắn lại theo chiều dài đất nước, từng mét, từng mét một... tôi đọc và cũng mỗi lần bắt xe về Hà Nội tôi cũng đếm từng chặng một, qua Sóc Sơn, qua cầu Đuống, rồi qua cầu Long Biên, Bốt Hàng Đậu hiện ra... tôi cứ thế đến gần với em... Ôi tình yêu là nỗi nhớ, là khát khao mong gặp lại.

Những ngày không gặp, chúng tôi viết thư cho nhau. Tôi mong thư em như mong một điều gì đó rất đỗi thiêng liêng. Chiều chiều tôi thường ngóng ra ngõ chờ người đưa thư lững thững đi trên con đường giữa cánh đồng làng, lòng tràn đầy hy vọng. Và sẽ thật buồn khi ông bảo: Cháu không có thư đâu, mỗi lần như thế tim tôi như quặn thắt, sự thất vọng làm tôi buồn vô kể ! Ngược lại mỗi lần nhận được thư em, tôi mở ra đọc ngấu nghiến từng từ, từng câu, đọc đi, đọc lại, đọc đến thuộc lòng từng câu chữ của em, lòng ngập tràn cảm xúc. Tôi thuộc lòng những bức thu của em. Có những đoạn, tôi nhắm mắt lại cũng có thể nhẩm được từng lời. Chữ em mềm mại, nắn nót, như chính con người em, dịu dàng mà sâu sắc.

Tôi giữ tất cả những lá thư ấy như giữ một phần trái tim mình. Nhưng tình yêu của chúng tôi không thể vượt qua những bức tường vô hình. Gia đình và bạn bè em không chấp nhận tôi. Một chàng trai tỉnh lẻ, tương lai mờ mịt, đến từ một nơi mà họ coi là xa xôi, lạc hậu. Họ muốn em có một cuộc sống khác, ổn định, xứng đáng hơn, theo cách mà họ nghĩ là đúng. Bởi thời đó việc chuyển công tác từ tỉnh khác về Hà Nội dường như là không thể bởi tôi không phải người Hà Nội. Em cũng đã chạy hỏi nhiều nơi với ý định xin chuyển cho tôi về dạy học tại một trường nào đó. Nhưng tất cả đều vô vọng.

Tình cảm trong em giằng xé bởi em rất yêu tôi. Tôi biết. Trong từng lá thư, trong từng ánh mắt, trong từng cái nắm tay run rẩy, trong từng nụ hôn dài nồng ấm, tôi đều cảm nhận được nỗi buồn ẩn sâu trong em. Và rồi, lá thư cuối cùng đến. Cuối năm 1984. Tôi vẫn nhớ ngày ấy, khi nhận được thư, lòng tôi bỗng bất an một cách kỳ lạ. Tôi mở ra, đọc từng dòng, từng chữ. Những con chữ quen thuộc, nhưng sao lại lạnh đến thế. Em nói lời từ biệt. Không oán trách. Không than vãn. Chỉ là một sự buông tay lặng lẽ. Em viết rằng em không đủ mạnh mẽ để chống lại tất cả. Rằng em đã cố, nhưng không thể. Rằng em mong tôi hiểu.

Tôi không hiểu em, nhưng vẫn không muốn chấp nhận sự thật đó. Tôi rất buồn, nỗi buồn đó kéo dài mãi trong tôi mãi cả mấy mươi năm sau này. Tôi thường ngồi lặng rất lâu một mình suy nghĩ về em. Lá thư trên tay run lên. Trời hôm ấy không mưa, nhưng trong tôi, mọi thứ như đang sụp đổ.

Sau này mỗi lần về Hà Nội, tôi vẫn xuống Thụy Khuê. Vẫn đứng dưới cột đèn ấy. Để tự nhớ về em. Dù em không còn xuất hiện nữa. Trong lá thư cuối em nói với tôi em xin sang Campuchia làm chuyên gia do Bộ Giáo dục cử sang. Em bảo chỉ có đi xa như thế em mới có thể quên tôi và tôi mới có thể rời xa em được. Chỉ còn lại tôi, và một khoảng trống không gì lấp đầy. Từ đó đến nay, đã 42 năm tôi chưa từng gặp lại em. Tôi cũng không biết tìm em nơi nào nữa.

Hà Nội đã thay đổi rất nhiều. Phố xá khác đi, người đông hơn, nhịp sống nhanh hơn. Nhưng mỗi lần trở lại, tôi vẫn thấy mình như chàng trai năm nào, đứng dưới mưa phùn, chờ một người không bao giờ đến nữa.

Có những chiều hè, tôi đi dọc phố Thụy Khuê, nhìn những hàng cây, những mái nhà, những góc phố cũ. Tôi tự hỏi: em có còn ở đâu đó trong thành phố này không? Em có đi ngang qua nơi chúng tôi từng gặp nhau không? Em có nhớ đến tôi không, dù chỉ một lần?

Tôi không biết. Chỉ biết rằng, trong tôi, em chưa từng rời đi. Tình yêu ấy, dù không trọn vẹn, lại trở thành điều sâu đậm nhất trong đời tôi. Nó không ồn ào, không rực rỡ, nhưng âm ỉ, dai dẳng, như mưa phùn Hà Nội, như cái lạnh len vào từng kẽ áo, như ánh đèn vàng không bao giờ tắt trong ký ức tôi suốt những tháng năm dài nhung nhớ.

Tôi yêu em. Và tôi yêu Hà Nội, vì nơi ấy có em mối tình đầu đầy ước mơ của tôi và em. Có thể, suốt phần đời còn lại, tôi vẫn sẽ đi về giữa lòng Hà Nội, như một kẻ tìm kiếm. Dù không thể gặp lại em, vì tôi biết điều đó gần như không thể. Mà là để tìm lại chính mình của những năm tháng ấy. Một chàng trai đã từng yêu đến quên mình, đã từng đứng hàng giờ dưới mưa, dưới nắng chỉ để chờ một ánh nhìn của em, một cái ôm mang đầy nỗi nhớ bởi em là cô gái tôi yêu.

Người ta nói, thời gian sẽ chữa lành tất cả. Nhưng có những vết thương không thể chữa lành. Chúng tồn tại, như một phần của ký ức, của con người. Và tôi, tôi chọn giữ lại nỗi đau ấy, như giữ lại một mảnh đời đẹp nhất thời tuổi trẻ sôi nổi và yêu thương. Nếu một ngày nào đó, giữa dòng người Hà Nội, tôi vô tình nhìn thấy một dáng hình quen thuộc, tôi không biết mình sẽ làm gì. Có thể tôi sẽ gọi tên em. Cũng có thể tôi chỉ đứng lặng, như ngày xưa đã từng lặng lẽ đứng nhìn em rời xa tôi mà không thể thốt nên lời, bởi nỗi đau quá lớn đối với trái tim non nớt si tình tuổi hai mươi thuở đó. Nhưng có một điều tôi biết chắc: Dù em ở đâu, dù bao nhiêu năm đã trôi qua, tôi vẫn mãi lưu giữ hình bóng em giữa lòng Hà Nội thân thương./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Bùi Nhật Lai. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Bùi Nhật Lai