Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.

Nếu quan niệm tiểu thuyết là sự dở dang, luôn ở thì không hoàn thành, thì Măng là nhân vật đích thực của tiểu thuyết, tựa như một dòng chảy phức tạp khó đoán định. Xét từ góc độ cấu trúc biểu tượng, nhân vật chính lại là dòng sông, cũng là “người” chứng kiến những sự kiện chính của làng. Dòng sông hay dòng đời, đời sông hay đời người? Dòng sông tiểu thuyết là một mã nghệ thuật lưỡng tính, đa nghĩa, lấp lóa, phát ánh sáng bởi sóng vỗ nhưng âm thầm dữ dội những xoáy cuộn ở phía đáy. Tác phẩm là một sự thách thức về nghĩa, về triết lý nhân sinh, về luật nhân quả… Nhìn từ triết học liên văn hóa (intercultural philosophy), đó là nơi gặp gỡ, hội tụ, khúc xạ, tiếp biến nhiều luồng văn hóa Nho, Phật, Lão, tư tưởng minh triết dân gian hôm qua và hôm nay. Ngôi làng ấy toát ra bao ý nghĩa mời gọi, phản biện, cự tuyệt... Đây là cách kể hiện đại, nhà văn phải vượt qua thách thức mọi giới hạn để có một câu chuyện đáng được kể ra.
Tính khác biệt nổi bật của tiểu thuyết là xây dựng những nhân vật lưỡng tính, từ ngoại hình đến hành động, tâm lý, tính cách đa tạp, tốt xấu đan xen. Không chỉ vậy, đó còn là những đầu mút của tính cách: cực xấu và cực tốt, cực thật thà và cực nóng nảy, rất mực yêu thương nhưng cũng sẵn sàng tận cùng tội lỗi… Chất lưỡng tính có ngay cả trong ngoại hình nhân vật chính (Măng). Khi trở về làng cũ, Măng đã 60 tuổi: “Vị khách (…), có dáng người cân đối. Trang phục đẹp, sang trọng. Từng bước đi cũng khoan thai, đĩnh đạc, đàng hoàng. Các động tác, cử chỉ, ăn nói, thưa gửi cũng nhã nhặn, luôn toát ra vẻ quyền uy nhưng cũng rất văn hóa của người có học. Chỉ có điều, trên khuôn mặt vị khách, đuôi lông mày sếch, vểnh ngược lên trên. Tròng mắt vẻ ngoài có vẻ hiền hiền nhưng chủ quán có cảm giác từ đó toát ra một sức mạnh, một ý chí, bản chất của sự lì lợm và hung hãn. Có thể ở người này, yêu thương sẽ tột cùng của yêu thương. Còn khi căm giận, sẽ là tột cùng của sự căm giận. Trạng thái tâm lý luôn ở cực điểm của tốt và xấu, thiện lành và gian ác, tử tế và khốn nạn. Ở người này không có sự trung dung giữa hai cực trạng thái tâm lý điển hình ấy”.
Như bao mô hình ngôi làng Việt được đan dệt bởi huyền thoại, làng Nang gắn liền với huyền thoại về sông. Đất làng khi xưa nguyên là một hồ chứa nước của con sông Cả. Hồ rộng đến mức chèo thuyền từ bờ bên này sang bờ bên kia phải mất một tuần trăng. Xung quanh hồ có những cây hoa rất lạ, mỗi bông hoa mang hình dáng một người con gái. Đêm mùa hè, những bông hoa sà xuống mặt hồ nô giỡn, đùa nghịch. Từ trong rừng, các hoàng tử cưỡi trên lưng những con ngựa trắng. Tiếng lục lạc treo trên cổ ngựa, tiếng huýt sáo như đệm cho tiếng hát của các bông hoa tiên… Nhưng một trận cuồng phong cuốn phăng đi tất cả. Thì ra những bông hoa ấy chính là các tiên nữ trốn vua cha Ngọc Hoàng xuống trần gian để chơi, quên lời cha dặn. Ngọc Hoàng nổi giận, hóa phép làm một cồn nổi ở giữa hồ để xóa dấu vết. Cồn nổi là làng Nang ngày nay. Nếu huyền thoại cắt nghĩa hiện tại thì câu chuyện ấy cắt nghĩa ngôi làng Nang trầm tích trong nó sự biến cải tuyệt đối “vũng nên đồi”, rất mực hiền hòa nhưng rất mực ngang trái.
Lại có huyền thoại kể làng xưa là một cồn nổi ngoài biển. Hàng năm để mưa thuận gió hòa, một làng trên đỉnh núi Tản có tục phải hiến tế thần sông một cô gái đẹp. Năm đó làng chọn người yêu của chàng trai nọ. Không chống nổi lệ làng, chàng bỏ làng đi, vào rừng chặt cây làm bè trôi xuôi sông Đà ra biển. Chiếc bè dạt vào cồn nổi, chàng phát cây làm ruộng, dựng lều. Một đêm, chàng cứu được người con gái dạt vào bờ… Họ thành vợ chồng. Thời gian trôi, con sông Cả mang phù sa về bồi đắp, cồn nổi thành một phần của đất liền… Còn nhiều huyền thoại khác lóng lánh sắc màu ma quái, liêu trai, có chuyện cực kỳ lãng mạn, có chuyện cực kỳ bạo liệt… Tất cả đều nhắm về cái ý lý giải người dân làng Nang hiện tại thế này là do có một quá khứ như vậy, tức mang chất nhân quả Phật giáo.
Tiểu thuyết dành nhiều trang miêu tả tập quán sinh hoạt nơi sông nước của dân làng Nang với kế sinh nhai chủ yếu là bắt tôm cá. Họ quen thuộc với những búi dấp cá là những bó chà rào đem dựng chỗ sông sâu rồi cắm cọc tre quây lại. Mỗi búi rấp cá rộng bằng ba bốn cái chiếu đôi để dụ cá sông rúc vào làm tổ. Các bó chà rào đã có hà bám thường có mùi tanh nên cá thích đến nhất. Trẻ con quen thuộc với những chùm lưỡi câu thép hơn là với ngòi bút sắt. Sợi dây câu được kéo từ bờ bên này sang bờ bên kia… Thiên về nghề sông nên đất đồng làng bỏ hoang. Năn, lác, lau, sậy mọc tốt thành rừng. Đêm đêm tiếng chim tranh tổ, tiếng chuột đánh nhau, tiếng cú rúc, tiếng bầy dơi đi ăn đêm tạo ra một bản tổng phổ âm thanh đồng quê vừa lạnh lẽo, buồn bã vừa có gì đấy như đang cựa quậy, sinh sôi. Cũng không thiếu những cảnh lãng mạn như: đàn cò trắng chấp chới vẽ những hình đầy thi vị trên bầu trời; chim bồ nông vạc cánh dài cả sải tay sà xuống bắt mồi, tiếng đập gió bạt cỏ, rẽ đất… Tất nhiên, có nhiều tập quán của những loài cá sông được miêu tả sinh động, hấp dẫn, lạ lẫm. Như loại cá lẹp nhỏ đi kiếm ăn lúc mưa, còn lũ cá to thấy mưa thường trốn vào hang hốc. Vì nước mưa xuống làm chúng xót mắt. Khi nắng hửng, chúng mới ra kiếm mồi, là lúc để buông lưới, thả câu...
Xét kỹ, sáng tạo văn chương là công việc kiến tạo những mô hình đời sống. Mô hình đời sông cũng chính là mô hình đời người. Con sông hiền hòa, dịu êm nhưng chứa trong nó bao điều bí mật, dữ dội. Dân sông nước cũng vậy, vẻ ngoài hiền lành, chỉ biết làm điều thiện, nhưng một khi để cái ác trỗi dậy, cái ác sẽ là tận cùng. Những triết lý ấy lại được một nhân vật gần như thất học, suốt đời chịu cảnh cam chịu, nhẫn nhục là bà Tèo “ngộ” ra một cách minh triết, chân xác nhất.
Cốt truyện của “Đời sông” chảy theo dòng chảy sự kiện về ba nhân vật bà Tèo, ông Được, và Măng. Huyền thoại dân gian về vị thần cứu người con gái rồi họ gá nghĩa với nhau được ánh xạ vào câu chuyện có thật giữa ông Được và bà Tèo. Cô thanh nữ yêu anh Vược có thai rồi bị phụ tình thành gái chửa hoang. Chửa hoang thì phải thả bè trôi sông. May mắn hay không may mắn mà anh chàng ngư dân tên Được cứu người sắp chết ấy rồi họ gá nghĩa cùng nhau. Thằng Măng được sinh ra nhưng không phải con đẻ, Được biết thế. Bao buồn phiền anh ta gửi vào rượu và dồn nỗi hận vào bà Tèo. Được vũ phu bao nhiêu thì lại thật thà bấy nhiêu, cũng đến tận cùng. Với lão, “thành công nhất cuộc đời chính là tự dối được chính mình. Tự lừa dối được chính mình, mới mong, lừa dối được người”. Nhưng cả đời lão chưa bao giờ trái ý mình nên với người, lão “thẳng ruột ngựa”. Như một nghịch lý, ba con người là ba thế giới khác biệt ấy lại dồn tụ vào không gian hẹp nhất để tồn tại là cái nhà thuyền đánh cá nhỏ bé. Cũng trớ trêu, ông Vược, bố đẻ thằng Măng giờ lại cùng cảnh sông nước, mỗi lần gặp là bà Tèo lại cố quên đi quá khứ. Nhưng càng quên, những kỷ niệm xưa cứ hiện về. Thằng Măng lớn lên trong nhà thuyền nhưng hồn nó hướng về bờ bãi, nơi có bạn bè nó và dân làng Nang…
Một cách kể nhập vai khá nhuyễn, vừa có tâm trạng, suy nghĩ, cái nhìn nhân vật, vừa mang quan điểm của người kể thứ ba biết hết. Câu chuyện mang màu sắc luận đề về sự báo ứng, về ứng xử: “Lòng sông rộng, hẹp vẫn đo được chỗ nông, chỗ sâu, có thể dò, chứ lòng người, không biết đâu mà lần. Con người với con người, trong cuộc sống, khi để lòng thù hận nẩy mầm, ăn sâu bám rễ, nó đeo đẳng, hành hạ không thể quên… Tội ác bắt nguồn từ chính cái ác đã gieo”. Hầu như mọi sự kiện, hiện tượng đều mang tính đa nguyên, được nhìn từ nhiều phía, nhiều người, khách quan, kết luận dành cho bạn đọc. Lý luận tiểu thuyết gọi đó là lối kể dân chủ, bình đẳng, trao quyền phân tích, đánh giá cho nhân vật và độc giả.
Hẳn nhiên tiểu thuyết dành nhiều nhất số trang cho nhân vật chính - Măng. Khi ở tuổi dậy thì, trong người phập phồng lớn lên cái dục tính của chàng trai đầy khát khao giới tính, được “nhìn thấy đầy đủ nhất cơ thể của một người đàn bà”. Cậu ta đem theo cái nhìn ấy đi suốt đời mình. Sau này trở thành một “trùm xã hội đen” nhưng trong sâu thẳm con người ấy vẫn sâu đậm cái thiên tính cần cù, chân chất, hiền lành của một ngư dân làng Nang.
Câu chuyện dừng lại khi Măng - một kẻ bị truy nã đi ra khỏi làng, cũng là đi ra khỏi những kỷ niệm thời trai trẻ. Còn về sau, bạn đọc hãy thử đoán xem… Người viết bài này tin rằng, sẽ có rất nhiều cách tưởng tượng thú vị khác nhau về quãng đời còn lại của một con người phức tạp, cũng là con cá măng lớn nhất của lão Được suốt đời đi săn mà chưa bắt được!