Thơ lục bát xứng đáng được đặt ở vị trí “Quốc thi”

Bằng Việt| 26/06/2022 18:07

Thơ lục bát  xứng đáng  được đặt  ở vị trí  “Quốc thi”
Làm thơ lục bát tài hoa phải đến đỉnh cao bậc “thi thánh”, ai ai cũng phải tâm phục khẩu phục, thì chỉ mới có cụ Nguyễn Du.
Thơ lục bát  xứng đáng  được đặt  ở vị trí  “Quốc thi”
Lục bát bước vào thế kỷ XX như vậy là đã trở nên một thể thơ hoàn chỉnh và có vị thế ổn định trong thơ Việt. Những cách tân trong thơ lục bát thế kỷ XX và sang cả thế kỷ XXI là không nhiều. Về nội dung, thì tất nhiên nó phải chứa đựng thêm nhiều nội dung của thời đại mới, tương ứng, với cách nghĩ và cách nói mới, phù hợp với các trào lưu của thời đại, kể cả các biến đổi cách mạng trong xã hội. Những nhà thơ tên tuổi đã đem lại nhiều thành tựu trong thơ lục bát thế kỷ XX, phải kể đến sau Tản Đà là Á Nam Trần Tuấn Khải. Tiếp đó là “thời kỳ vàng son” của lục bát qua các nhà thơ Thế Lữ, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Trần Huyền Trân, Lưu Trọng Lư, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư... và đặc biệt là Nguyễn Bính với chất “chân quê” đặc sệt của ông đã làm nên cái hồn lục bát duyên dáng và độc đáo gần như vô địch trong thơ Việt Nam cận - hiện đại, mà ai cũng dễ thuộc:
Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn giập miếng giầu, em sang,
Đôi ta cùng ở một làng
Cùng đi một ngõ, vội vàng chi anh,
Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết chúng mình... với nhau
Ai làm cả gió, đắt cau,
Mấy hôm sương muối 
cho trầu đổ non!. 

(Hẹn)
Cái “tôi trữ tình” trong thơ lục bát của các nhà thơ thế kỷ XX thực sự đã được nâng lên rõ rệt, ở tầm cao và tầm sâu hơn nhiều so với các thế kỷ trước, lại còn cộng thêm cả “cái tôi tuyệt đối”- khi chịu ảnh hưởng khá rõ của chủ nghĩa cá nhân, khi trí tuệ tự do và cảm xúc cá nhân đã được giải phóng trong sáng tác của các nhà thơ phương Tây sau trào lưu của các cuộc cách mạng tư sản thành công. Tính tâm sự, nhằm để bộc bạch, giãi bày, chia sẻ..., đã thoát khỏi mọi ước lệ và cung bậc nặng nề của thơ cổ điển, được nâng lên tới mức chân thực và giàu biểu cảm nhất, từ mọi khía cạnh phong phú của niềm vui và nỗi buồn con người, đã được các nhà thơ thế kỷ XX thể hiện một cách phóng khoáng và nhuần nhụy. 
Lục bát cũng có được một phần rõ nét trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ đó. Hãy thử cảm nhận các yếu tố cá nhân rất riêng tư, rất mong manh - kiểu ta vẫn hay gọi một thời là “tiểu tư sản” - trong tình yêu và cảm nhận đôi lứa, đã được nhà thơ Huy Cận khéo léo kết hợp như thế nào, cùng các yếu tố Đông và Tây, cổ và kim, trong một bài thơ tình khá điển hình, bài “Ngậm ngùi”: 
Nắng chia nửa bãi... Chiều rồi,
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu,
Sợi buồn, con nhện giăng mau,
Em ơi hãy ngủ, anh hầu quạt đây!
Lòng anh mở với quạt này,
Trăm con chim mộng về bay đầu giường.
Ngủ đi em. Mộng bình thường,
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ,
Cây dài, bóng xế ngẩn ngơ,
Hồn anh đã chín mấy mùa thương đau,
Tay anh, em hãy tựa đầu, 
Để em nghe nặng trái sầu rụng rơi! 
Rồi tiếp đó, các nhà thơ ở lớp trẻ hơn, sau cách mạng 1945 và nhất là qua  cả cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước dài dặc hơn 20 năm, vẫn tiếp nối được truyền thống của lục bát, vững vàng mà uyển chuyển, hiện thực và mơ ước bay bổng, lại còn có thêm những nét mới, khỏe khoắn và mạnh mẽ hơn, nhưng vẫn có các yếu tố thực và ảo, mới và cũ, xa và gần, tôi và chúng ta... đan xen, trong thời kỳ sau này, như lục bát của các nhà thơ: Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Trọng Tạo... Trong hoàn cảnh những năm được yêu cầu làm nhiều thơ tuyên truyền, cổ vũ mạnh mẽ hơn cho cuộc chiến đấu, hoặc con người mới, cuộc sống mới..., cũng khá là bất ngờ khi nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo dám “cho ra lò” một bài thơ thể hiện rõ chất nghệ sĩ tung hứng trong cái tôi cá nhân phóng túng, một khía cạnh không phải lúc nào cũng được hoan nghênh, nhất là ở thời điểm đó. Tuy nhiên, bài thơ đã được phổ nhạc và phổ cập, bài “Chia”:
Chia cho em một đời tôi,
Một cay đắng, một niềm vui, một buồn,
Tôi còn cái xác không hồn,
Cái chai không rượu, tôi còn vỏ chai!
Chia cho em một đời say,
Một cây si với một cây bồ đề,
Tôi còn đâu nữa đam mê,
Trời chang chang nắng, tôi về héo khô,
Chia cho em một đời thơ,
Một lênh đênh, một dại khờ, một tôi.
Chỉ còn cỏ mọc bên trời,
Một bông hoa nhỏ, lặng rơi mưa dầm!

 ...Về hình thức, thơ lục bát luôn vẫn giữ được tính ổn định cao. Tuy nhiên, có một số tìm tòi nỗ lực làm mới lục bát, cũng đáng được ghi nhận, đó là  đưa thơ lục bát đến gần với thơ “leo thang” như kiểu Mayakovsk của Nga, tức là mỗi dòng không nhất thiết có 6 rồi đến 8 câu như thông thường, mà tùy ý ngắt nó ra, có khi 2-3 chữ, hoặc 3-4 chữ một dòng, theo một tiết tấu nhất định. Nhà thơ hải ngoại là Du Tử Lê còn đưa lối viết “hậu hiện đại” vào lục bát, theo kiểu “leo thang” như vậy, và cũng được nhiều người tán thưởng, ví dụ như: 
Nằm nghe
chăn gối rơi. Cùng
tháng năm bằn bặt
Phật còn ở không. 
Tôi nhìn
tôi rất chon von                                 
núi non âm bản
rừng son vẽ
Buồn”.        
             (Buồn)
 ...Còn một điểm cuối cùng nữa chúng ta cần phải làm rõ, đó là: Thơ lục bát có tồn tại trong một số nền thơ khác, ngoài thơ tiếng Việt hay không. Ở trên, chúng ta đã có đề cập đến một nhà thơ cổ điển Việt Nam, đó là cụ Nguyễn Huy Oánh, từ thế kỷ XVIII đã dùng thể lục bát để viết bài thơ du ký dài “Phụng sứ Yên Kinh tổng ca” bằng chữ Hán. Nhưng đó vẫn là lục bát chữ Hán do một tác giả Việt Nam viết, không phải thơ của người Trung Hoa. Riêng có ý kiến của nhà thơ Inrasara dân tộc Chăm mới đáng phải lưu ý, khi ông cho rằng: Có tồn tại một kiểu thơ lục bát của người Chăm (Champa hay Chiêm, theo nhiều cách gọi).
Theo nhà thơ Inrasara, dạng thơ của người Chăm có tên gọi là Ariya có rất nhiều điểm tương đồng với thơ lục bát Việt. Thể thơ Ariya này gieo vần ở chữ thứ 6 dòng lục, hiệp vần với chữ thứ 4 dòng bát, giống như câu ca dao Việt:
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.
Và cũng theo ông Inrasara, vần của thơ Ariya Chăm có thể là vần trắc, chứ không nhất thiết chỉ là vần bằng. Trong lục bát Việt cũng có hiện tượng tương tự:
Tò vò mà nuôi con nhện
Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi.
Tuy nhiên, có một điểm mà nhà thơ Inrasara cũng thấy rõ sự khác biệt giữa thơ Chăm và thơ Việt, đó là: Ngôn ngữ Chăm là ngôn ngữ đa âm tiết, không phải ngôn ngữ đơn âm như tiếng Việt. Theo tôi, chính đó là điều khác biệt cơ bản. 
Nhà thơ Inrasara cho rằng, có thể đếm các chữ trong câu thơ Ariya Chăm theo số âm tiết chủ đạo (của ngôn ngữ đa âm) mà không lệ thuộc vào số lượng chữ trong câu. Hoặc có thể đếm theo số lượng trọng âm ở các từ trong một câu, giống như các tiếng châu Âu, khi trọng âm rơi vào đâu, thì phải đọc nhấn rõ vào âm ấy, còn các âm khác không phải trọng âm, thì có thể đọc lướt đi, có khi còn bị nuốt đi cũng không tính. Và như vậy, có thể không cần đếm hết tất cả số âm không nhấn ấy, mà chỉ cần tính “công thức 6-8” nằm ở các trọng âm mà thôi!
Ví dụ đoạn thơ sau, có vần ở các chữ: crong với tapong (câu 1-2) và harơk với pơk (câu 3-4), vần nằm ở trọng âm giữa câu có 8 âm tiết, và 2 câu sau là vần trắc:
 Mai brik dei brei pha crong
Tangin dei tapong kauk luk mưnhưk,
Bbuk ai tarung yuw harơk
Tangin dei pơk nhjwok yuw tathi
 (Đoạn trích thơ Chăm của Inrasara)
Nghĩa là: 
Về đi, đôi ta đùi gác
Bàn tay em vuốt, đầu xức dầu thơm,
Tóc anh bù rối như rơm
Tay em vuốt lên, mượt như lược chải
 (Lời dịch của Inrasara)
Như vậy, có thể thấy dạng thơ Ariya này cũng có một chút hơi hướng hiệp vần theo kiểu thơ lục bát, nói rõ hơn là biết hiệp một vần lưng cùng với một vần cuối câu, dù vần lưng đó là ở âm tiết thứ 4 hay thứ 6 của câu có 8 âm tiết chủ đạo (trọng âm), mà vần đó có thể là vần bằng hoặc vần trắc, tùy theo mỗi câu thơ.
Tuy nhiên, chừng ấy là chưa đủ để chúng ta khẳng định rằng đó là thể thơ lục bát hoặc tương đồng lục bát, lý do thật đơn giản: tiếng Chăm vốn là tiếng đa âm, nên không thể chỉ đếm âm chủ đạo, hay các trọng âm, để từ đó có thể coi nó thực sự là câu có 6 hay 8 âm tiết chính. Cho dù các âm không phải trọng âm, có thể đọc nuốt đi, hoặc đọc lướt đi, nhưng không thể bảo rằng nó không có, vì vậy, câu thơ đọc lên vẫn bị kéo dài, các âm phụ bị dôi dư ra, làm tiết tấu câu thơ nặng thêm, nhạc tính câu thơ bị phá mất sự cân đối, còn các âm thì không được phân biệt rành rẽ (vì khi đọc nối dính vào nhau), còn cao độ và trường độ của các âm thì không bao giờ có thể sắc nét và phân minh như khi ta đọc câu thơ lục bát tiếng Việt. Còn khi viết ra trên giấy, thì nó lại càng lộ rõ khiếm khuyết, khi không cho ta hình dung được cụ thể và chính xác, rằng đó là các câu thực đúng chỉ có 6 từ hay đúng chỉ có 8 từ rõ rệt. Và như thế, sao lại có thể gọi là thơ lục bát được?.
Phân tích trên đây đủ để chúng ta thêm một lần nữa, khẳng định rằng thơ lục bát là một thể thơ đơn thuần chỉ có được của dân tộc Việt, đã có quá trình hình thành và phát triển hữu cơ trong môi trường văn hóa Việt qua nhiều thế kỷ, không thể tách rời khỏi những ưu thế độc đáo của ngôn ngữ đơn âm và đa thanh trong tiếng Việt, nhờ thế, câu thơ có nhạc điệu bổng trầm. 
Nhạc điệu của thơ lục bát rất gần gũi với nhạc điệu những bài dân ca, bài hát ru con... hồn hậu và thâm thúy từ xa xưa trong dân gian; lại gần gũi với những điệu hò, điệu vè, hát ví, hát dặm... phóng túng và hồ hởi khi hỏi han, động viên nhau trong lao động sản xuất; thêm nữa, nó cũng đồng thời là “họ hàng” thân cận của các làn điệu âm nhạc dân tộc trên sân khấu truyền miệng tự nhiên, phát xuất từ nhiều đời, như các điệu hát xoan, hát xẩm, hát quan họ, hát trống quân... Vì nó quá thân quen, gần gũi với chúng ta, nên có thể nói không ngoa, rằng mỗi người Việt bẩm sinh đều có thể tự sáng tác hay tự ngâm nga một vài câu lục bát ứng khẩu, khá là “sạch nước cản” trong mọi hoàn cảnh và mọi điều kiện khác nhau, những lúc tự dưng “tức cảnh sinh tình”. Đấy cũng là một nét độc đáo tự nhiên và đáng yêu nữa của mỗi tâm hồn Việt đối với thơ lục bát, để bạn bè nước ngoài có thể nói nửa đùa nửa thật, rằng người Việt nào cũng đều biết làm thơ cả!
Tuy nhiên, rộng thì rất rộng mà cao thì lại rất cao, đó mới là cái khó và cái tinh của thể loại thơ này! Hò vè ứng khẩu tuy thú vị đấy, nhưng vẫn chưa thể được công nhận là thơ!  Làm thơ lục bát tài hoa phải đến đỉnh cao bậc “ thi thánh”, ai ai cũng phải tâm phục khẩu phục, thì chỉ mới có cụ Nguyễn Du, người mà “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” trong các câu Kiều của cụ, để hàng trăm năm nay vẫn không có ai sánh nổi! Và thứ thơ lục bát “thứ thiệt” ấy vẫn là những đỉnh cao vời vợi, đầy hấp dẫn và bí ẩn, đang mong chờ tất cả chúng ta chinh phục.
Thơ lục bát  xứng đáng  được đặt  ở vị trí  “Quốc thi”
Xuân Quỳnh - một trong các nhà thơ hôm nay tiếp nối được truyền thống của lục bát cùng những nét mới đan xen.
Với những điều kỳ diệu và hiếm thấy như thế, từ tính bình dân đến tính bác học, từ tính lịch sử đến tính văn hóa, từ mặt bằng dễ phổ cập đến đỉnh cao vô tận không dễ gì đạt tới, thơ lục bát luôn có một tiềm năng hấp dẫn với tất thảy mọi người. Âm điệu, tiết tấu và nhạc tính của nó từ bao đời luôn chinh phục được mọi trái tim và khối óc người Việt hơn tất cả mọi hình thức và thể loại thơ nào khác.
Và quả thật sẽ không ngoa, nếu chúng ta đồng lòng tôn vinh tài sản tinh thần độc đáo và vốn quý vô song là thể thơ lục bát của chúng ta, xứng đáng được đặt ở vị trí “Quốc thi” trong gia tài thi ca và văn hóa dân tộc.
(0) Bình luận
  • Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt
    Chiều 20/6/2026, NXB Kim Đồng phối hợp cùng Học viện đào tạo Truyện tranh Comicola Academy và Cộng đồng họa sĩ truyện tranh Việt Nam PunkgaMe tổ chức tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt” và workshop “Quy trình chuyển thể tác phẩm văn học sang truyện tranh”. Tham dự sự kiện có đông đảo biên tập viên, họa sĩ chuyên nghiệp, các bạn trẻ đam mê sáng tác truyện tranh và độc giả yêu thích truyện tranh.
  • Nhà văn Hoàng Quốc Hải: “Một nhà văn đúng nghĩa phải đồng thời là một nhà văn hóa”
    Nhà văn Hoàng Quốc Hải sinh năm 1938 tại Hải Dương là một trong những cây bút tên tuổi của văn học Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử. Trước khi chuyên tâm sáng tác, ông từng là phóng viên báo Vùng mỏ (nay là báo Quảng Ninh), rồi làm biên tập viên tập Sáng tác Hà Nội - tiền thân của tạp chí Người Hà Nội. Với sự nghiệp trải dài hơn nửa thế kỷ, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm qua hai bộ tiểu thuyết đồ sộ “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”. Những tác phẩm này không chỉ tái hiện chân thực lịch sử dân tộc mà còn thể hiện tình yêu sâu sắc của ông đối với Hà Nội - mảnh đất nghìn năm văn hiến. Hãy cùng lắng nghe nhà văn chia sẻ về hành trình sáng tác, những trăn trở về đề tài lịch sử và lời nhắn gửi tâm huyết đến thế hệ trẻ yêu nghề viết.
  • Nhà văn Tô Hoài: Người “thuyền trưởng” tâm huyết và bản lĩnh
    Trong chặng đường 40 năm của Tạp chí Người Hà Nội, dấu ấn của nhà văn Tô Hoài - Tổng Biên tập đầu tiên vẫn luôn hiện hữu sâu đậm. Không chỉ là người đặt nền móng, định hướng phát triển cho tờ báo, ông còn là người truyền cảm hứng về một cách làm báo cẩn trọng, tinh tế, nhân văn và tràn đầy trách nhiệm.
  • Người Hà Nội trong tôi
    Suốt hành trình 40 năm xây dựng và phát triển, Người Hà Nội luôn nhận được sự đồng hành, đóng góp các cây bút thuộc nhiều thế hệ, trong và ngoài nước, từ chuyên nghiệp đến không chuyên. Qua mỗi bài viết, họ đã mang đến những góc nhìn, cảm xúc mới mẻ góp phần gìn giữ bản sắc riêng của tạp chí. Dưới đây là những chia sẻ chân thành của một số cộng tác viên về kỷ niệm và sự gắn bó sâu sắc mà họ dành cho tạp chí Người Hà Nội trong suốt những năm qua.
  • Vài kỉ niệm với tập “Sáng tác Hà Nội”
    Chi hội Văn nghệ Hà Nội (sau là Hội Văn nghệ Hà Nội - tiền thân của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội) được thành lập vào tháng 10 năm 1966.
  • Người Hà Nội - 40 năm đồng hành với văn nghệ sĩ Thủ đô
    Tạp chí Người Hà Nội tiền thân là ấn phẩm Sáng tác Hà Nội do Chi hội Văn nghệ Hà Nội (nay là Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội) phát hành từ năm 1967. Ngay từ thuở ban đầu, ấn phẩm là một diễn đàn nhỏ nhưng có sức sống mạnh mẽ, nhanh chóng trở thành nơi quy tụ các sáng tác của văn nghệ sĩ Hà Nội.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tiểu thuyết “Phi công” - kiệt tác văn học đương đại Nga ra mắt độc giả Việt
    Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam vừa giới thiệu tới bạn đọc tiểu thuyết “Phi công” của nhà văn Nga đương đại Evgeny Vodolazkin, do dịch giả Phan Xuân Loan chuyển ngữ. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết Nga nổi bật nhất của thập niên 2010.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Em trai
    Tôi sinh ra và lớn lên tại một ngôi làng hẻo lánh, nghèo nàn trên đỉnh núi. Ngày qua ngày, cha mẹ tôi “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” cày xới đám đất khô đã ngả vàng nuôi gia đình mà vẫn khó khăn. Mùa xuân, hoa lá cỏ cây đua nhau nở nhưng nhà chúng tôi lúc nào cũng màu xám...
  • Bà phù thủy có cây vú sữa
    Chẳng hiểu vì sao tôi rất sợ khi thấy bà phù thủy nhà bên. Nhưng càng sợ lại càng tò mò, cứ muốn lén nhìn qua lỗ gạch để xem từng hành động của bà. Bà đang quét lá vú sữa, biết có ánh mắt đang theo dõi, liền ghé lại, làm tôi một pheng điếng hồn.
  • “Vì an toàn giao thông” năm 2026: Cầu nối xây dựng văn hóa giao thông cho thế hệ trẻ Thủ đô
    Nhằm thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Ban Bí thư, Chính phủ và các kế hoạch trọng điểm của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, ủy ban nhân dân thành phố đã chuẩn bị triển khai Chương trình truyền thông “Vì an toàn giao thông Thủ đô” năm 2026.
  • Liên hoan Âm nhạc Quốc tế Crescendo 2026
    Liên hoan là nơi hội tụ các nghệ sĩ, giảng viên, chuyên gia âm nhạc để tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế. Liên hoan cũng hiện thực hóa các mục tiêu văn hóa của Thành ủy và Bộ Chính trị, đưa âm nhạc đương đại đến gần hơn với Nhân dân, nâng cao đời sống tinh thần và định hướng thẩm mỹ cho công chúng Thủ đô...
Đừng bỏ lỡ
  • Tái hiện thiên tình sử bất hủ giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Công chúa Thiên Thành
    Vở cải lương “Tình sử Đông A” tái hiện thiên tình sử bất hủ giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Công chúa Thiên Thành, đưa khán giả trở về với một giai đoạn lịch sử rực rỡ, nơi tình yêu, lòng trung nghĩa và khí phách dân tộc cùng tỏa sáng. Đêm diễn sẽ chính thức được mở màn vào lúc 20h00 ngày 27 tháng 6 năm 2026 tại Rạp Chuông Vàng, số 72 Hàng Bạc, Hà Nội.
  • Hà Nội tăng cường phát triển xuất bản trong tình hình mới, lan tỏa văn hóa đọc và sức mạnh mềm văn hóa Thủ đô
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Hướng dẫn số 38-HD/BTGDVTU ngày 22/6/2026 về quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Hướng dẫn xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm phát triển xuất bản theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gắn với phát triển văn hóa đọc, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số trên địa bàn Thủ đô.
  • "Trải nghiệm văn hóa dân gian truyền thống" tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Từ ngày 1 đến 31/7/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra chuỗi hoạt động tháng 7 với chủ đề "Trải nghiệm văn hóa dân gian truyền thống", mang đến nhiều chương trình trải nghiệm, giao lưu và thực hành di sản dành cho công chúng, đặc biệt là thanh thiếu niên trong dịp hè.
  • Khai mạc Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026
    Tối 26/6, tại Hà Nội, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với Hãng phim Quốc gia Belarus (Belarusfilm) và Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus tổ chức lễ khai mạc Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026.
  • Khai mạc Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026: Tôn vinh giá trị của sen trong đời sống người Việt
    Tối 26/6, tại Vườn hoa Lý Tự Trọng, Sở Du lịch Hà Nội phối hợp với UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Sắc Sen Hà Nội”. Đây là sự kiện văn hóa - du lịch quy mô lớn nhằm tôn vinh giá trị của sen trong đời sống người Việt, đồng thời góp phần xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa đặc trưng của Thủ đô gắn với hình ảnh hoa sen.
  • Tầm nhìn thế kỷ để Thủ đô Hà Nội bứt tốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
    Trong suốt tiến trình lịch sử phát triển đô thị của Việt Nam, chưa có một văn kiện nào thể hiện chiều sâu không gian và chiều dài thời gian vĩ mô như Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính chị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 đánh dấu một bước ngoặt tư duy mang tính cách mạng, thay thế các góc nhìn ngắn hạn bằng một hệ kiến trúc chính sách mang tầm thế kỷ cho Hà Nội.
  • Thêm một không gian vui chơi cho trẻ tại Phố Sách Hà Nội
    Sáng 26/6, tại Phố Sách Hà Nội (phố 19 háng 12, phường Cửa Nam), UBND phường Cửa Nam phối hợp với Tập đoàn Picenza Việt Nam, doanh nghiệp xã hội Think Playgrounds và Ban Quản lý Phố Sách Hà Nội tổ chức ra mắt Khu vui chơi - Chòi chơi Phố sách, hưởng ứng kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026).
  • Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026
    Từ ngày 26 đến 28/6/2026, tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Hà Nội), Cục Điện ảnh phối hợp với Hãng phim Quốc gia Belarus (Belarusfilm) và Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus tổ chức “Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026”.
  • Tuyên dương 126 gia đình văn hóa tiêu biểu Thủ đô năm 2026
    Sáng 25/6, Thành phố Hà Nội đã tổ chức Hội nghị tuyên dương các gia đình Văn hóa tiêu biểu Thủ đô năm 2026, nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026).
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Văn Học
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Văn Học.
Thơ lục bát xứng đáng được đặt ở vị trí “Quốc thi”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO