Tổng quan kinh tế Việt Nam 1945 - 2019

Kinhtedothi| 03/09/2019 15:57

74 năm đã qua kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đất nước đã trải qua nhiều thời khắc khó khăn, khủng hoảng kinh tế, song tựu trung lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng và đặc biệt là sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới - Việt Nam đã vững vàng bước ra biển lớn với sự tự tin, đĩnh đạc.

Sự vươn lên mạnh mẽ
Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp, chủ yếu là độc canh lúa nước, còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, cơ chế... Từ lâu, ông cha ta đã dạy “phi nông bất ổn”. Do vậy, nông nghiệp được coi trọng, giá trị sản xuất từ năm 2016 tính theo tốc độ tăng giá trị tăng thêm nông, lâm nghiệp - thủy sản (tính theo giá so sánh) năm 2018 lớn gần gấp 14,9 lần năm 1939.
Bình quân một năm tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng tương ứng trong cùng thời gian của dân số (3,48% so với 2,00%). Trong một thời gian tương đối dài, nhất là suốt những năm kháng chiến, “hạt gạo làng ta” đã góp phần quan trọng vào thắng lợi ở nơi tiền tuyến, ổn định ở hậu phương. Tuy nhiên, cho đến trước 1990, nông nghiệp vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ở trong nước.
Nhờ đổi mới, nông nghiệp đã góp phần đưa Việt Nam ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước, đã cơ bản bảo đảm được an ninh lương thực và nông nghiệp có điều kiện phát triển toàn diện, nhiều loại nông sản xuất khẩu với khối lượng đứng thứ hạng cao trên thế giới.
Nông nghiệp được đổi mới đầu tiên, là bệ đỡ của toàn bộ nền kinh tế về giá cả, về công ăn việc làm của người lao động, mỗi khi có biến động từ bên ngoài tác động đến các ngành công nghiệp, dịch vụ.
Ông cha ta cũng dạy “phi công bất phú”. Khi đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, Việt Nam đã chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công nghiệp đã tăng trưởng nhanh hơn, trở thành động lực và đầu tàu tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.
Năm 2018 so với năm 1939, giá trị sản xuất công nghiệp cao gấp 486,1 lần, bình quân một năm tăng trên 8%, nhưng chủ yếu là do tăng trưởng từ 1991 đến nay (1990 so với 1939 cao gấp 17,5 lần, bình quân tăng gần 5,77%/năm; còn năm 2018 so với năm 1990 cao gấp 27,8 lần năm 1990, bình quân tăng trên 12,6%/năm.
Do năng suất lao động của công nghiệp - xây dựng cao gấp nhiều lần nông nghiệp (năm 2018 cao gấp trên 3,4 lần) nên đã có tác động về nhiều mặt, trong đó có 3 mặt chủ yếu. Một mặt đã thu hút số lao động đang làm việc ở nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản sang làm việc trong nhóm ngành công nghiệp - xây dựng (tỷ trọng số lao động đang làm việc ở nhóm ngành công nghiệp - xây dựng năm 1990 mới chiếm 11,2%, thì năm 2018 đạt gần 27%, trong khi tỷ trọng số lao động đang làm việc trong nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản giảm từ 73% xuống còn 38,1% trong cùng thời gian).
Mặt khác, năng suất lao động cao lên cũng đồng nghĩa với quy mô giá trị thặng dư (giá trị gia tăng) của toàn bộ nền kinh tế cao lên và tốc độ tăng chung cũng cao lên. Thu ngân sách từ công nghiệp, dịch vụ cao lên, tạo điều kiện cho phần nộp ngân sách tăng lên về quy mô tuyệt đối, mặc dù tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách có thể giảm đi để khoan thư sức dân và nuôi dưỡng nguồn thu.
Trước cách mạng, số xí nghiệp còn rất ít ỏi, chủ yếu do thực dân nắm giữ; phân bố chủ yếu ở các ngành, lĩnh vực nhằm khai thác tài nguyên và bóc lột sức lao động thuộc địa với giá nhân công rẻ mạt. Số lượng DN năm 2018 đã cao gấp 577 lần năm 1945, trong đó chủ yếu tăng cao từ khi Việt Nam chuyển đổi cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang cơ chế thị trường, đặc biệt khi Luật Doanh nghiệp ra đời và liên tục được hoàn thiện. Cơ cấu DN theo loại hình kinh tế có sự thay đổi quan trọng theo hướng tăng tỷ trọng DN ngoài Nhà nước, DN có vốn đầu tư nước ngoài... Quan trọng hơn, nếu trước đây Nhà nước đi vay để nuôi DN thì nay, ngược lại DN đã nuôi Nhà nước.
Tuy nhiên, số lượng DN vẫn còn ít (bình quân 14,7 DN/100 người dân), quy mô DN còn nhỏ. Mấy năm qua, số DN bị phá sản, giải thể, tạm ngừng hoạt động còn lớn và kéo dài, đặc biệt là hiệu quả đầu tư và năng suất lao động của khối DN nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế còn thấp nên sức cạnh tranh còn thấp, tăng trưởng xuất khẩu chậm lại nhập khẩu cao lên. Quy mô thu ngân sách chưa nhiều, trong khi chi ngân sách có yêu cầu ngày càng cao, việc cân đối ngân sách gặp khó khăn, chi trả nợ chiếm tỷ lệ cao trong tổng thu, bội chi ngân sách lớn.
Đổi mới mô hình tăng trưởng
Cùng với đổi mới cơ chế quản lý, việc mở cửa, hội nhập ngày một sâu rộng, với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tính từ năm 1988 đến nay đăng ký đã đạt trên 400 tỷ USD, thực hiện đạt gần 200 tỷ USD; khu vực FDI đã chiếm trên 20% tổng lượng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, thu hút trực tiếp trên 4% số lao động đang làm việc, chiếm 50% giá trị sản xuất công nghiệp, trên dưới 70% kim ngạch xuất khẩu, chiếm 20% GDP theo giá thực tế.
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tính từ 1993 đến nay đã đạt trên 91 tỷ USD, giải ngân trên 75 tỷ USD. Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) hiện có đạt trên 20 tỷ USD.
Quan hệ buôn bán với nước ngoài tăng cao, đạt quy mô lớn về kim ngạch, tỷ lệ so với GDP thuộc nhóm cao nhất trên thế giới. Tỷ lệ xuất nhập khẩu/GDP của Việt Nam thuộc loại cao trên thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam thường ở vị thế nhập siêu lớn ở một số thị trường, nhất là từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Singaore... Có nhiều nguyên nhân, rõ nhất là do nền kinh tế còn mang tính gia công, lắp ráp, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp...
Tới đây, quy mô xuất khẩu của Việt Nam còn lớn hơn nữa sau nhiều FTA thế hệ mới được ký kết. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã gia tăng, tạo điều kiện công ăn việc làm và quan trọng hơn là giới thiệu trực tiếp hình ảnh của Việt Nam đối với nước ngoài, là tiền đề mở rộng, nâng cấp các hoạt động đầu tư, thương mại, văn hóa, giáo dục, chính trị...
Kết quả tổng hợp là GDP và GDP bình quân đầu người tăng khá. Quy mô GDP năm 2018 tính theo giá so sánh đã cao gấp 10,7 lần năm 1976; chủ yếu tăng cao từ năm 1991 đến nay. Tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái nếu năm 1988 mới đạt khoảng 5,48 tỷ USD, thì năm 2018 đã đạt khoảng 245 tỷ USD, khả năng năm 2019 đạt khoảng 267 tỷ USD.
GDP bình quân đầu người nếu năm 1988 đạt 86 USD – là một trong mấy nước thấp nhất thế giới thì năm 2008 đã đạt 1.145 USD, chuyển sang nhóm nước có thu nhập trung bình, năm 2018 đạt 2.587 USD, khả năng năm 2019 có thể đạt xấp xỉ 2.790 USD.
Tuy nhiên, mức bình quân đó cũng còn thấp, vẫn còn đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn, dễ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, chưa giàu đã già, bẫy giá nhân công rẻ, bẫy gia công lắp ráp...
Vấn đề đặt ra là đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển từ số lượng sang chất lượng, chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu trên cơ sở phát huy khoa học công nghệ để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội. 
(0) Bình luận
  • Dấu ấn nhiệm kỳ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa XII (Bài cuối)
    Nhiệm kỳ khóa XII (2022 - 2026), Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp đã thực hiện hiệu quả công tác xây dựng đoàn, mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và hệ thống chính trị; công tác quốc tế thanh niên; tham mưu, phối hợp… Qua đó hoàn thành các mục tiêu nghị quyết Đại hội Đoàn khóa XII đặt ra, hướng tới nhiệm kỳ khóa XIII với hành động cách mạng thống nhất: “Tuổi trẻ Việt Nam tiên phong trong kỷ nguyên mới”.
  • Bố trí các điểm trông giữ xe tại Lễ hội Sen Hà Nội 2026
    Lễ hội Sen Hà Nội 2026 diễn ra từ ngày 26 đến 28/6/2026 tại khu vực hồ Tây, là sự kiện văn hóa - du lịch trọng điểm nhằm tôn vinh nét đẹp hoa sen và quảng bá bản sắc Thăng Long – Hà Nội.
  • Dấu ấn nhiệm kỳ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa XII (Bài 2)
    Giai đoạn 2022 – 2026, triển khai nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa XII, các cấp đoàn đã chuyển hóa những nội dung trong nghị quyết Đại hội thành hành động cụ thể và đạt được nhiều kết quả nổi bật.
  • Ra mắt Liên Chi hội Nhà báo Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội
    Ngày 17/6, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tổ chức Lễ công bố Quyết định và ra mắt Liên Chi hội Nhà báo Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội và các Chi hội trực thuộc.
  • Các thành phố ASEAN cùng xây dựng cộng đồng ASEAN tự cường, bền vững
    Đó là phát biểu của Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại phiên khai mạc Hội nghị lãnh đạo các Thành phố ASEAN diễn ra chiều 8/6 tại Hà Nội. Hội nghị do UBND Thành phố Hà Nội chủ trì.
  • Hà Nội cho thấy quan hệ cấp địa phương là nền tảng vững chắc cho quan hệ cấp quốc gia
    Tại Hội nghị lãnh đạo các Thành phố ASEAN diễn ra chiều 8/6 do UBND Thành phố Hà Nội chủ trì tổ chức, đồng chí Nguyễn Mạnh Cường - Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, chia sẻ: “Hà Nội đã thiết lập mối quan hệ hợp tác với hơn 100 Thủ đô, thành phố trên thế giới, trong đó có nhiều thành phố ASEAN. Hà Nội cho thấy quan hệ cấp địa phương là nền tảng vững chắc cho quan hệ cấp quốc gia”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Giữ “miền sáng” của văn chương
    Những năm gần đây, văn học thiếu nhi Việt Nam đã có nhiều khởi sắc với sự nhập cuộc của các cây bút trẻ, sự đồng hành của các cơ sở giáo dục, các đơn vị xuất bản... Tuy nhiên, để “miền sáng” văn chương này thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng thì vẫn cần thêm những cơ chế hỗ trợ, những môi trường sáng tạo thuận lợi và trên hết là những tác phẩm đủ sức chạm tới trái tim bạn đọc...
  • Người dân “trẩy hội” tại Bảo tàng Hà Nội xem triển lãm Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm
    Hàng ngàn người dân và du khách chiều 29/6 đã đến với Bảo tàng Hà Nội thưởng lãm triển lãm Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Đây là sự kiện thuộc khuôn khổ Hội nghị Công bố Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và xúc tiến đầu tư do UBND Thành phố Hà Nội tổ chức đã thành công tốt đẹp vào sáng cùng ngày.
  • Động lực đột phá mở ra giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội
    Nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị công bố quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và xúc tiến đầu tư năm 2026 diễn ra sáng 29/6, Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng khẳng định: “Động lực đột phá từ thể chế, không gian mới từ quy hoạch sẽ là bệ phóng hiện thực hóa khát vọng xây dựng Thủ đô trở thành nơi hội tụ tri thức và công nghệ. Người dân được sống trong môi trường văn minh, an toàn và hạnh phúc”.
  • [Video] Phát huy giá trị sen Tây Hồ thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hoá Thủ đô
    Trong không khí rộn ràng, phấn khởi, tại đình Quảng Bá, phường Tây Hồ, các nghệ nhân, người làm nghề ướp trà sen làng Quảng Bá, đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận Bằng công nhận danh hiệu Làng nghề truyền thống “Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá” và Nghề truyền thống “Nghề ướp trà sen Quảng An”. Sự kiện là cột mốc có ý nghĩa đặc biệt, không chỉ tôn vinh giá trị văn hóa hoa sen của vùng đất Tây Hồ mà còn khẳng định sức sống mãnh liệt của một nghề truyền thống giữa nhịp sống hối hả của Thủ đô, góp sức phát triển công nghiệp văn hoá Hà Nội theo mục tiêu Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị.
  • Huế thu thập hơn 460 mẫu hài cốt liệt sĩ phục vụ giám định ADN
    TP Huế lấy mẫu sinh phẩm tại 11 nghĩa trang liệt sĩ và đã thu thập hơn 460 mẫu hài cốt liệt sĩ phục vụ giám định ADN theo đúng quy trình.
Đừng bỏ lỡ
Tổng quan kinh tế Việt Nam 1945 - 2019
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO