Văn hóa – Di sản

Trần Nguyên Đán – nhà văn hóa kiệt xuất thời vãn Trần

Nguyễn Phương Thảo 25/03/2024 11:40

Trần Nguyên Đán (1325 - 1390), là nhà chính trị, nhà thơ; hiệu là Băng Hồ. Dưới triều Trần, ông từng giữ nhiều chức vụ trọng yếu. Đời vua Trần Dụ Tông, ông giữ chức Đại phu Ngự sử đài (làm Đại phu ở Đài ngự sử), chuyên việc can gián. Đời vua Trần Nghệ Tông, ông cùng nhiều tướng lĩnh khác có công dẹp Dương Nhật Lễ, được phong chức Tư đồ.

nguyen-dan.jpg
Đền thờ Tư đồ Trần Nguyên Đán.

Đến năm 1371, ông lại được bổ nhiệm chức Tư đồ phụ chính, tước Chương túc Quốc thượng hầu kiêm quân quản trấn Quảng Oai, phụ trách việc bang giao với các nước. Mùa thu năm 1385, ông xin về hưu trí ở Côn Sơn, sống cuộc đời nhàn dật cho tới lúc mất. Có thể thấy, ở chức vụ nào ông cũng làm tròn trách nhiệm và phận vị của mình. Bên cạnh những đóng góp không nhỏ về mặt chính trị, ngoại giao, Trần Nguyên Đán còn thể hiện tài năng, tầm tư tưởng và nỗi niềm riêng ở lĩnh vực văn hóa, sáng tác thi ca. Ông là người thông kinh bác sử, hiểu sâu sắc nghĩa lí Nho, Phật, Đạo. Sống trong cảnh đất nước không mấy thanh bình, nhất là lúc triều Trần suy tàn, Trần Nguyên Đán gần như người mất phương hướng. Ông hy vọng vào lớp nho sĩ trẻ như Nguyễn Ứng Long, Nguyễn Hán Anh... nhưng lại không dám đề cử họ với triều đình. Là trọng thần của vương triều Trần nên ông lo sợ binh quyền phe Hồ Quý Ly làm hại gia tộc mình, cuối cùng đành chấp nhận kết thông gia với Hồ Quý Ly để giữ yên ổn cho con cháu. Ông qua đời khi vương triều Trần đang bước vào giai đoạn suy vong.

Trần Nguyên Đán là bậc thức giả thấu hiểu vận nước, cõi đời và tình người. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại sự kiện ông trí sĩ, lui về Côn Sơn, gửi cho các bạn làm quan bài thơ, trong đó chỉ còn giữ lại được hai câu:

Kim cổ hưng vong chân khả giám,

Chư cộng hà nhẫn gián thư hy?

(Con mắt xưa nay gương đã rõ,

Các ông sao nỡ vắng thư can?)

Ông từng vượt qua những tập tục, qui định chặt chẽ của vương tộc nhà Trần và dám chấp nhận hai chàng rể ngoại tộc Nguyễn Ứng Long và Nguyễn Hán Anh. Khi thấy hai gia sư trẻ sợ tội trốn đi, Trần Nguyên Đán nói: “Vận nước sắp hết, biết đâu chẳng phải là trời xui nên như thế, vị tất không phải là phúc”. Bèn cho gọi hai chàng về bảo rằng: “Người xưa cũng có chuyện này. Các ngươi không thấy chuyện Văn Quân với Tương Như hay sao? Nếu hai người làm được như Tương Như, truyền lại danh tiếng cho đời sau thì đó là điều mong muốn của ta”. Hai chàng cảm ơn sâu nặng, chăm chỉ học hành. Đến khi thi, cả hai đều đỗ. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông nói: “Bọn chúng có vợ giàu sang. Như thế là kẻ dưới dám phạm thượng, bỏ không dùng”. Sau Nguyễn Hán Anh làm quan đến chức Chuyển vận sứ. Ứng Long đến thời nhà Hồ đổi tên là Phi Khanh, cùng đỗ Thái học sinh với con là Nguyễn Trãi và đều được bổ làm quan.

Trong kho sách Hán Nôm, có một số nguồn tài liệu xa gần đề cập đến thân thế và sự nghiệp Trần Nguyên Đán như Thanh Hư động kí (1384) của Nguyễn Phi Khanh; Côn Sơn Thanh Hư động bi minh, Đề Tư đồ Trần Nguyên Đán từ đường của Trần Nghệ Tông; Băng Hồ di sự lục (1428) của Nguyễn Trãi; Đại Việt sử kí toàn thư (1697), Công dư tiệp kí (1755) của Vũ Phương Đề; Toàn Việt thi lục (1768) của Lê Quí Đôn; Ngự chế Việt sử tổng vịnh (1874) của Tự Đức; Việt Nam quốc sử khảo (1908) của Phan Bội Châu... Chung qui, trước tác của Trần Nguyên Đán có Băng Hồ ngọc hác tập và Bách thế thông kỷ nhưng đến nay hầu hết đã thất truyền. Hiện chỉ còn 51 bài thơ chép trong Việt âm thi tập và Toàn Việt thi lục...

Trần Nguyên Đán viết thơ chủ yếu để bày tỏ tâm sự, phần lớn có xu hướng chán nản, lo đời, thương bản thân là người tài mà “sinh nhầm thế kỉ”. Trần Nguyên Đán sống trong thời kì khủng hoảng của lịch sử Đại Việt. Người dân thời bấy giờ phải chịu cuộc sống cơ cực, lầm than. Cảnh bão lụt, hạn hán, mất mùa thường xuyên diễn ra. Lụt lội lớn, vỡ đê vào các năm 1336, 1348, 1351-1352,...; hạn hán, mất mùa vào năm 1343, 1348, 1355... gây tổn thất rất nhiều cho đời sống dân chúng. Trong cơn khủng hoảng này, nhà Trần lại cũng không mấy để ý đến các chính sách nông nghiệp, khuyến nông và ít chăm lo đến vấn đề đê điều, thủy lợi. Là người cương trực, thẳng thắn, lại vốn thương dân, chăm dân, Trần Nguyên Đán đã phải sống, chứng kiến và bất lực trước tình cảnh của dân chúng. Cho nên những bài thơ của ông sáng tác thường mang nặng nỗi niềm cảm thương, đau xót trước tình cảnh khốn đốn của đất nước và chúng dân :

Niên lai hạ hạn hựu thu lâm,

Hoà cảo miêu thương hại chuyển thâm.

Tam vạn quyển thư vô dụng xứ,

Bạch đầu huống phụ ái dân tâm.

(Nhâm Dần niên lục nguyệt tác)

(Năm nay mùa hè bị hạn, mùa thu lại bị lụt,

Lúa khô mạ thối, tai hại càng nhiều.

Đọc ba vạn quyển sách mà thành vô dụng,

Bạc đầu luống phụ lòng thương dân)

(Làm vào tháng sáu năm Nhâm Dần)

Hoặc:

Vạn quốc dân sinh phí đinh ngư,

Sóc Yên đông Biện dĩ khâu khu.

(Dạ qui chu trung tác)

(Nhân dân muôn nước như cá trong vạc nước sôi,

Đất Yên phương Bắc, đất Biện phương Đông đã thành gò đống)

(Làm trong thuyền lúc ban đêm đi về)

Không những phải chứng kiến cảnh dân chúng lầm than, Tư đồ Trần Nguyên Đán còn chứng kiến tận mắt cảnh mua quan bán tước diễn ra nhan nhản mà “lực bất tòng tâm”. Bên cạnh đó, ở thời kì này, giai cấp thống trị nhà Trần đua nhau đem ruộng đất, nô tì cống vào việc xây dựng chùa chiền. Dân đen thì thiếu thốn đủ thứ, vậy mà những kẻ có địa vị, có tiền lại bàng quan, thờ ơ... Trần Nguyên Đán đau xót kể nỗi bất bình của mình trong thơ:

Nhất tiếu vô ưu trang thất bảo,

Long xà đôi trúc dịch dân lao.

(Bảo Nghiêm tháp)

(Cười cho sự vô lo, đem thất bảo điểm tô lên tháp,

Chạm trổ rồng rắn làm dân phải mệt nhọc)

(Tháp Bảo Nghiêm)

Đứng trước hoàn cảnh đó, Trần Nguyên Đán luôn mơ về một xã hội công bình, có nhiều người tài năng, có đạo đức để gánh vác những trọng trách lớn của đất nước. Ông mong sao bậc vua chúa biết lắng nghe, biết trọng dụng nhân tài và người trung hiếu để họ “phò nghiêng đỡ lệnh”, cống hiến tài năng, xây dựng một đất nước mà ở đó, khắp thôn cùng xóm vắng người dân vui cảnh ấm no, thái bình. Trần Nguyên Đán thừa nhận mình đã thuộc lớp người thất thế, buộc phải lui về “cày nhàn câu vắng” và ước mong một sự đổi thay, một lớp người mới sẽ tiếp nối, vực lại giang sơn:

Sóc phong tế vũ chuyển thê lương,

Khách xá tiêu tiêu khách tử trường.

Ly hạ u tư tồn vãn tiết,

Khê biên tố diệm thí tân trang.

Hồ nhi vị khoản Hoa Môn tái,

Bùi lão tư qui Lục Dã đường.

Điếu nguyệt canh vân hà thái tảo?

Thiên chung vạn vũ Tử vi lang.

(Ký tặng Nhị Khê Kiểm chính Nguyễn Ứng Long)

Nguyễn Đức Vân dịch thơ:

Mưa phùn gió Bắc cảnh thê lương,

Quán trọ đìu hiu khách vấn vương.

Dưới giậu vẻ thanh, còn tiết muộn,

Bên khe hoa trắng, nức mùi hương.

Hồ nhi chưa đến Hoa Môn tái,

Bùi lão ưng về Lục Dã đường.

Câu nguyệt cày mây sao sớm thế?

Muôn chung nghìn tứ Tử vi lang.

(Gửi tặng Kiểm chính Nguyễn Ứng Long ở Nhị Khê)

Trong bài thơ này, Trần Nguyên Đán nhận rằng mình như khí tiết hoa cúc quân tử đã về già và như ông Bùi Độ đời Đường đã hưu quan ở Lục Dã; còn người con rể như hoa mai hiền sĩ tuổi trẻ, xứng đáng nhận niềm tin và gánh vác trọng trách trong triều. Mở rộng hơn, Trần Nguyên Đán bày tỏ nguyện vọng về việc đào tạo, trọng dụng người hiền tài:

3

Nhất chú ngự hương thông để khuyết,

Nguyện văn trung hiếu Trạng nguyên danh.

(Canh thế cục chư sinh xướng thù giai vận)

(Đốt nén hương vua thấu đến cửa thượng đế,

Mong được nghe tên vị Trạng nguyên trung hiếu)

(Họa vần bài thơ xướng họa của các thí sinh ở trường thi)

Sống giữa nơi kinh thành, Trần nguyên Đán cảm nhận rõ sự lỗi thời, bất lực của mình và thấy việc mình ôm chức quan cũng chỉ là hư danh, hư vị không giúp được gì cho đời:

Trung tâm nhận đắc bản lai không,

Tiện trữ hư không tại cá trung.

Thiên hạ hữu vi giai chính lý,

Nhân gian vô xứ bất xuân phong.

Thanh trà hảo tửu cung giai khách,

Sấu trúc sơ mai bạn lão ông.

Lãm kính tự tàm duy nhất sự,

Lực phù suy bệnh tác Tam công.

(Ngẫu đề)

Trần Lê Sáng dịch thơ:

Hỏi lòng biết được vốn là không,

Nên mặc hư không cứ ở trong.

Thiên hạ có duyên đều chính lý,

Nhân gian đâu chỗ chẳng xuân phong.

Trà thơm, rượu ngọt mời tân khách,

Trúc thẳng, mai gầy đón lão ông.

Ngắm bóng thẹn lòng duy một việc,

Ốm hèn còn gắng giữ Tam công.

Nhìn rộng ra, có lẽ một bộ phận quan lại thời Trần Nguyên Đán là những người không có chữ, đúng hơn là không nhiều chữ. Họ làm quan là vì có tiền của, cậy thần cậy thế, mua được quan bán được tước. Cho nên quan Tư đồ mong ước các tướng văn, tướng võ trong triều ít nhiều cũng phải biết chữ. Người có chữ ắt hẳn là người biết đến trung hiếu, lòng vị tha, đức hy sinh, độ lượng với dân chúng và triều đình. Ông mong ước:

Đấu tướng tòng thần giai thức tự,

Lại viên tượng thị diệc năng thi.

(Đề quan Lỗ bạ thi tập hậu)

(Tướng võ, quan hầu đều biết chữ,

Thư lại, thợ thuyền cũng làm thơ)

(Đề sau tập thơ quan Lỗ bộ)

Tâm tình này ở Trần Nguyên Đán cho thấy ông là người cương trực, có lòng nhân ái. Ông dám phê phán, phản biện, lên án và nói thẳng những mặt trái, những điều bất công, tệ hại đang diễn ra trong xã hội đương thời. Đi xa hơn, bất lực trước thời cuộc, có lúc Trần Nguyên Đán tìm đến rượu để giải khuây:

Nhất bôi cưỡng tuý thù giai tiết,

Bất quản liêm hà bạch lộ linh.

(Cửu nguyệt hữu nhân lai phỏng đồng tác)

(Một chén gượng say để đáp lại tiết vui,

Chẳng ngại gì lau sậy có móc trắng rơi)

(Tháng chín có người đến thăm cùng làm thơ)

Tuy nhiên, việc Trần Nguyên Đán tìm đến rượu trước sau vẫn chỉ là điều bất đắc dĩ, cực chẳng đã. Bởi lẽ ông chẳng mấy hứng thú với rượu, tìm đến nhất bôi (một chén) trong tình thế cưỡng (gượng) và rồi ngay cả cái say cũng lại là cưỡng tủy (gượng say). Ông gượng say và cũng gượng vui, biết rằng có uống say cũng chẳng thể vui được.

Hẳn cũng vì bất mãn với thời cuộc nên đoạn cuối đời ông về Côn Sơn, chọn cuộc sống nhàn dật để được thỏa chí, thỏa lòng. Trong niềm tâm sự sâu xa, ông bộc lộ sự bất lực trước thời cuộc, đổ vỡ niềm tin vào lý tưởng Nho giáo cũng như với chính bản thân mình:

Bạch nhật thăng thiên dị,

Trí quân Nghiêu Thuấn nạn.

Trần ai lục thập tải,

Hồi thủ quý hoàng quan.

(Đề Huyền Thiên quán)

Bản dịch của Hoàng Việt thi văn tuyển:

Lên trời còn sự dễ,

Giúp chúa thật điều gay.

Sáu chục năm lẩn thẩn,

Trông người hổ thẹn thay.

(Đề quán Huyền Thiên)

Ở Trần Nguyên Đán, bên cạnh chữ “tài” còn có chữ “tâm”, bên cạnh cá nhân mình còn có vương triều, quốc gia, dân tộc. Người đời sau luôn tôn vinh, kính nể nhân tài và nhân cách của vị Tư đồ đời Trần này. Nguyễn Trãi cũng từng viết và tự hào ngợi ca về ông ngoại Trần Nguyên Đán của mình: “Giữ vững cơn lay động, gỡ mối sau buổi rối ren, trong khoảng mấy năm, trong nước yên lặng, người ta khen là hiền tướng. Dù là trẻ con, lính tráng, chẳng ai là không biết tiếng” (Băng Hồ di sự lục, 1428. Bản dịch, 1969)../.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải lưu vực S3, nhà máy xử lý nước thải Phú Đô
    Tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề) ngày 11/5, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải cho lưu vực S3 tại các phường Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Yên Hòa, Phú Diễn, Từ Liêm, Đại Mỗ và Nhà máy xử lý nước thải Phú Đô, Thành phố Hà Nội, theo hình thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT).
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Quốc lộ 1A lên 90m
    Dự án trục không gian Quốc lộ 1A có chiều dài khoảng 36,3km, đoạn từ đường Vành đai 1 đến nút giao Cầu Giẽ, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 162.000 tỷ đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
Trần Nguyên Đán – nhà văn hóa kiệt xuất thời vãn Trần
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO