Vấn đề sinh thái trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều

TS. Bùi Như Hải| 29/04/2021 07:09

Môi trường sinh thái đóng một vai trò rất quan trọng, quyết định đến sự sống còn của con người trên trái đất. Thế kỷ XX cũng chính là một thế kỷ mà nhân loại phải đối mặt với nhiều nguy cơ, rủi ro của sự biến đổi khí hậu, sự xuống cấp của môi trường, sinh thái. Văn học sinh thái và phê bình sinh thái đã ra đời, ngày càng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng với mong muốn chỉ ra các nguyên nhân nguy cơ sinh thái, tinh thần sinh thái ở mỗi người, nhằm cảnh báo, thức tỉnh con người trước sự khai thác quá mức làm kiệt quệ trái đất. Đồng thời qua đó, con người cần phải có thái độ ứng xử với thế giới tự nhiên hài hòa, thân thiện và văn minh hơn. 
Thấu hiểu và ý thức được vấn đề, giới văn nghệ sĩ có trái tim đa cảm, giàu lòng trắc ẩn như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Mai Văn Phấn, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Trí, Trần Duy Phiên, Nguyễn Ngọc Tư... đã tiếp cận, tìm hiểu, kí thác để tạo nên một khuynh hướng văn học sinh thái trong cùng dòng chảy với văn học đương đại. Trên tinh thần sinh thái, Nguyễn Quang Thiều - nhà văn tiên phong với trào lưu hiện đại cũng đã quan tâm, phản ánh một cách trực diện, sâu sắc trong văn xuôi viết về nông thôn. Các tác phẩm như: Kẻ ám sát cánh đồng (tiểu thuyết); Lời hứa của thời gian, Người thổi kèn lá dứa, Hương khúc nếp cuối cùng (truyện ngắn); Có một kẻ rời bỏ thành phố, Những cái chết không nhìn thấy, Trong tiếng vọng những mùa sen đã chết, Đã mất rồi những cái cây có ma, Trò chuyện về những cái cây đã chết (tản văn),... đã chạm đến những vấn đề cấp thiết của sinh thái nông thôn, với nhiều góc khuất của hiện thực sinh thái nông thôn trong sự hài hòa giữa con người với thế giới tự nhiên; trong sự biến đổi, tàn phá, hủy hoại của con người đối với thiên nhiên, muông thú,... 
Vấn đề sinh thái trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều
Vấn đề sinh thái trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều
Vấn đề sinh thái trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều
Vấn đề sinh thái trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều
Một số tác phẩm của nhà văn 
Nguyễn Quang Thiều
Khắc họa không gian làng quê bình yên, thơ mộng... 
Nhà văn Nguyễn Quang Thiều hơn một lần đã tâm sự rằng: “Đi đâu cũng vậy thôi, tôi vẫn là “con chó nhỏ” của làng Chùa - Hà Tây, nơi chứng kiến tất cả những vui buồn tuổi thơ tôi. Đi đâu thì tôi cũng là người Việt, một người nhà quê chân lấm tay bùn mà lên”. Dưới ngòi bút tài hoa của mình, ông đã miêu tả thế giới thiên nhiên làng quê rất phong phú, bình dị, yên ả, thơ mộng, tràn đầy âm thanh và màu sắc, rất đáng sống của con người. Đặc biệt, làng Chùa - một làng quê nghèo hiền hòa, bình dị đã đi vào kí ức tuổi thơ, trở thành nguồn cảm hứng dạt dào, vô tận trong sáng tác của Nguyễn Quang Thiều. Hình ảnh thiên nhiên làng quê như: con sông Đáy, cánh đồng làng bát ngát, bờ bãi rực vàng hoa cải, hoa tầm xuân sắc trắng hồng,... rất mộc mạc, gần gũi và thơ mộng, khiến người đọc không thể không xuyến xao, xúc cảm. Sông Đáy như người mẹ bao dung, nảy nở, hoài thai, dưỡng nuôi sự sống, kết tinh hạt mầm tinh khôi của con người, vạn vật nơi đây. Nhà cửa, vườn tược nơi chốn quê này cũng rất đơn sơ, bình yên, gợi lại kí ức về làng quê xưa cũ, nghèo khó: “Những ngôi nhà với những bức tường đất và lợp rạ lúc nào cũng lụp xụp và đầy bóng tối,... Và những ngày ấy, làng quê đầy cây cối và những khu vườn hoang um tùm cây dại”(1)[tr.77]. Ngôi nhà thân thương ấy, cũng chính là nơi níu giữ những người con xa quê mỗi khi gặp giông bão trong đời, lại muốn được trở về. Làng quê ấy còn ẩn chứa bao điều huyền bí, tâm linh trong những câu chuyện kể của cây thị, cây gạo có ma kì quái của các bà, các mẹ cho bọn trẻ con nghe hằng đêm. 
Không chỉ khắc họa phong cảnh làng quê bình dị, nên thơ, những trang văn của Nguyễn Quang Thiều còn tái hiện phong tục, văn hóa truyền thống và nếp sống giản dị, đầy tình nghĩa của những người dân thôn quê. Những lúc khó khăn, thiếu thốn, loạn li vì chiến tranh họ cùng nhau đùm bọc, sẻ chia từng “bữa cơm độn khoai lang khô” hay “một bát cà và một đĩa măng tre luộc chấm tương”. Và cả những lúc khấm khá, có của ăn của để, họ vẫn trân trọng biếu nhau những thức quà ngon như bánh khúc được đồ với gạo nếp. 
Trong Mùa hoa cải bên sông, cảnh sắc thiên nhiên làng quê nên thơ, tươi đẹp, trù phú và bình yên đã khiến cô thiếu nữ tên Chinh thích thú, đắm say ngay cái nhìn đầu tiên, khơi lên một niềm ao ước, khát khao muốn rời khỏi không gian tù hãm, chật chội của con thuyền, của thị thành để đến với chốn quê yên ả, tươi đẹp. Và nó cũng đã đánh thức con tim thổn thức, khao khát một tình yêu vẫy gọi, để rồi Chinh đã se duyên cùng Thao bên bến sông rực rỡ hoa cải vàng. Và không riêng chỉ Chinh, ông Hiền (Tiếng gọi lúc hoàng hôn), người lính già cô đơn (Lời hứa của thời gian) và một số nhân vật khác trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều được xây dựng với trái tim ấm nóng, chan chứa tình yêu thương với thiên nhiên, muông thú và họ cũng đã được thiên nhiên, muông thú chở che, bảo vệ. 
Niềm khắc khoải trước sự xâm lấn, tàn phá...
Nhà văn Nguyễn Quang Thiều không chỉ miêu tả, khắc họa không gian làng quê với những nét đẹp bình dị, trong lành, mát mẻ của những con sông, lũy tre làng, vườn hoa cải, ngôi nhà ba gian ngói đỏ,... mà còn ưu tư, đau xót vì làng quê bị xâm lấn, tàn phá trước làn sóng kinh tế thị trường cùng cơn bão đô thị hóa mạnh mẽ. Diện mạo cảnh quan làng quê, đời sống của người nông dân từ sau Đổi mới đến nay đã có sự đổi thay, văn minh và nhộn nhịp, sôi động hơn: “Ánh sáng của đèn điện bảo vệ dọc đường, có tiếng hát karaoke của đám thanh niên trong một xóm gần đấy, có tiếng hò hét một trận đấu bóng đá giải ngoại hạng Anh,…”(2)[tr.119] Nhưng làng quê nơi ấy cũng đã/ đang đánh mất đi rất nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc biệt không gian sinh thái thiên nhiên bị xâm lấn, thay đổi trước những tác động xấu của quá trình đô thị hóa, của kinh tế thị trường.
Như bao làng quê khác của đất nước, làng Chùa cũng phải đối mặt với một vấn đề khá phức tạp phát sinh từ quá trình đô thị hóa nông thôn, đó là sự trì trệ, tối tăm, bẩn thỉu, ô nhiễm về môi trường sống của con người. Những con sông quê vốn dĩ trong lành, mát ngọt nhưng giờ đây trở thành con sông “chết”, con sông “đen”, vì bị ô nhiễm trầm trọng bởi rác thải sinh hoạt, của người dân sinh sống trên thuyền ven sông; khai thác nguồn lợi thủy sản bừa bãi, vấy bẩn; xác động vật hay những người xấu số nào đó “đã rữa tỏa mùi tanh nồng nặc”(1)[tr.70-71]; những “nhà máy giết chết cả một con sông và đe dọa sự sống của cư dân đôi bờ”(2)[tr.130]. Các công trình đường xá, nhà ở, khu công nghiệp,... xây dựng đã làm thay đổi, biến mất không gian thiên nhiên thôn dã. Hoa tầm xuân, hoa sen, rau khúc - những loại thảo mộc thân thuộc, gắn bó với đời sống sinh hoạt, trở thành nét đẹp văn hóa của người nông dân nhưng giờ đây đã bị phá bỏ, vì thế thưa dần, ít ỏi. Những đóa hoa tầm xuân thơm ngát dùng để ướp trà, nấu chè và làm đẹp mái tóc cho người phụ nữ,... đã biến mất là kết quả của một sự thay thế, đánh đổi: “Gò sông bây giờ khác xưa quá nhiều. Một hệ thống lò gạch máy dựng lên làm mất hết những bụi tầm xuân. Chỉ còn lại một vài khóm nhỏ mọc quanh hai ngôi mộ”(1)[tr.47]. Những rau khúc người dân dùng làm nguyên liệu để gói bánh, trở thành phong tục, đặc sản, nét đẹp của quê hương mỗi độ Tết đến xuân về hay mùa đông giá lạnh cũng dần mai một. Những đầm sen - một phần của hồn làng càng ngày càng bị thu hẹp, lần lượt biến mất trước cơn lốc của kinh tế thị trường. Người ta cho đấu thầu để phá sen nuôi cá, nuôi vịt, làm ô nhiễm môi trường, bờ đầm “hôi nồng mùi phân vịt”, nhiều cây dại rất đẹp quanh bờ đầm chỉ còn trơ ra của sỏi đá, đất sét đã đầu độc bầu không khí trong lành, mát mẻ của làng quê. 
Không chỉ có dòng sông, đầm sen, cây cối,... mà còn những loại động vật nơi làng quê cũng cùng chung số phận. Những đàn chim mòng két ở đầm Lai đã trở thành đối tượng săn lùng của các tay thợ săn bắn động vật, khiến bờ đầm Lai trở nên hoang vu, vắng vẻ, không còn một con chim nào đến đây trú ngụ nữa. Hành động bắn những chú chim mòng két “xõa cánh, ngực bê bết máu” rơi xuống “như lá khô gặp gió” chính là bằng chứng của sự toan tính, thực dụng, vô cảm của con người. Quả thật, sinh thái nơi làng quê đã có sự thay đổi, biến mất đầy xa xót, thương tâm, và dường như, rất ít người để tâm đến, chỉ biết lợi nhuận, chỉ biết thỏa mãn cho thú vui tiêu khiển của mình. Những con rắn cũng trở thành đối tượng “săn mồi” của con người sống nơi vùng biển. Những tay ăn nhậu chuyên đi bắt rắn để làm mồi nhậu, vì rắn là món nhậu “đặc sản”, nhất là quả tim của con rắn trở thành nghi lễ chứng tỏ lòng thành với nhau trong tiệc nhậu. Họ chỉ biết thỏa mãn thú vui ăn nhậu, không hề bận tâm về việc làm, hành động của mình đã giết chết một sinh mệnh bé nhỏ, đang gào thét, kêu cứu, trì níu trước khi lìa khỏi sự sống và tiếng rền rĩ, giận dữ của biển cả: “Những con rắn bơi trong mù khơi. Những quả tim bé bỏng đập trong đĩa. Và tiếng rền rĩ bất tận của biển cả”(1)[tr.259]. 
Chính lòng tham, sự ích kỉ, thiếu ý thức của con người đã tàn phá, hủy diệt các sinh mệnh nên dẫn đến phá vỡ nghiêm trọng môi trường sống của con người, không gian văn hóa của làng quê vốn kiến tạo, hun đúc nên từ ngàn năm. Hiện thực này khiến Nguyễn Quang Thiều rất trăn trở, suy ngẫm. Tuy nhiên, ông không hề bi quan, mà trái lại vẫn thể hiện một cái nhìn lạc quan, phản tỉnh về sự hồi sinh của tự nhiên, về sự ý thức của con người trong việc bảo vệ, gìn giữ thiên nhiên, văn hóa làng quê trước cơn lốc phát triển thần tốc của tiến trình đô thị hóa nông thôn. Với Nguyễn Quang Thiều, thế giới tự nhiên cũng giống như con người, nó cũng có cảm xúc, biết đau, biết buồn, biết giận hờn, biết nổi giận, nên con người cố tình tàn phá thiên nhiên, sát hại muông thú tàn nhẫn, thô bạo thì con người sẽ nhận lại hậu quả bằng cách nó tự biến mất.
Có thể nói, vấn đề sinh thái trong văn xuôi viết về nông thôn được Nguyễn Quang Thiều miêu tả, phản ánh rất chân thực, sinh động và sâu sắc, đúng như nó đã/ đang tồn tại. Bên cạnh một nông thôn với những cảnh làng quê thanh bình, yên ả, tươi đẹp, thì nông thôn trong quá trình đô thị hóa, kinh tế thị trường cũng đã làm vỡ tung, thấu triệt không gian thiên nhiên làng quê vốn tồn tại, dựng xây trước đó. Vấn đề sinh thái nông thôn được tác giả đặt ra trong một số tác phẩm cũng như một liều thuốc làm thức tỉnh ý thức của con người, biết nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của hệ sinh thái nông thôn đối với con người; biết yêu quý, tôn trọng, bảo vệ trái đất cũng như sự sống của con người, xem thiên nhiên, muông thú là người bạn thân thiết, quan trọng không thể thiếu đối với con người, đối với mỗi quốc gia và toàn nhân loại.
...................................
(1). Nguyễn Quang Thiều, (2012), Mùa hoa cải bên sông, Nxb Hội Nhà văn. 
(2). Nguyễn Quang Thiều, (2012), Có một kẻ rời bỏ thành phố, Nxb Hội Nhà văn.
(0) Bình luận
  • Nhà văn Hoàng Quốc Hải: “Một nhà văn đúng nghĩa phải đồng thời là một nhà văn hóa”
    Nhà văn Hoàng Quốc Hải sinh năm 1938 tại Hải Dương là một trong những cây bút tên tuổi của văn học Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử. Trước khi chuyên tâm sáng tác, ông từng là phóng viên báo Vùng mỏ (nay là báo Quảng Ninh), rồi làm biên tập viên tập Sáng tác Hà Nội - tiền thân của tạp chí Người Hà Nội. Với sự nghiệp trải dài hơn nửa thế kỷ, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm qua hai bộ tiểu thuyết đồ sộ “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”. Những tác phẩm này không chỉ tái hiện chân thực lịch sử dân tộc mà còn thể hiện tình yêu sâu sắc của ông đối với Hà Nội - mảnh đất nghìn năm văn hiến. Hãy cùng lắng nghe nhà văn chia sẻ về hành trình sáng tác, những trăn trở về đề tài lịch sử và lời nhắn gửi tâm huyết đến thế hệ trẻ yêu nghề viết.
  • Nhà văn Tô Hoài: Người “thuyền trưởng” tâm huyết và bản lĩnh
    Trong chặng đường 40 năm của Tạp chí Người Hà Nội, dấu ấn của nhà văn Tô Hoài - Tổng Biên tập đầu tiên vẫn luôn hiện hữu sâu đậm. Không chỉ là người đặt nền móng, định hướng phát triển cho tờ báo, ông còn là người truyền cảm hứng về một cách làm báo cẩn trọng, tinh tế, nhân văn và tràn đầy trách nhiệm.
  • Người Hà Nội trong tôi
    Suốt hành trình 40 năm xây dựng và phát triển, Người Hà Nội luôn nhận được sự đồng hành, đóng góp các cây bút thuộc nhiều thế hệ, trong và ngoài nước, từ chuyên nghiệp đến không chuyên. Qua mỗi bài viết, họ đã mang đến những góc nhìn, cảm xúc mới mẻ góp phần gìn giữ bản sắc riêng của tạp chí. Dưới đây là những chia sẻ chân thành của một số cộng tác viên về kỷ niệm và sự gắn bó sâu sắc mà họ dành cho tạp chí Người Hà Nội trong suốt những năm qua.
  • Vài kỉ niệm với tập “Sáng tác Hà Nội”
    Chi hội Văn nghệ Hà Nội (sau là Hội Văn nghệ Hà Nội - tiền thân của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội) được thành lập vào tháng 10 năm 1966.
  • Người Hà Nội - 40 năm đồng hành với văn nghệ sĩ Thủ đô
    Tạp chí Người Hà Nội tiền thân là ấn phẩm Sáng tác Hà Nội do Chi hội Văn nghệ Hà Nội (nay là Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội) phát hành từ năm 1967. Ngay từ thuở ban đầu, ấn phẩm là một diễn đàn nhỏ nhưng có sức sống mạnh mẽ, nhanh chóng trở thành nơi quy tụ các sáng tác của văn nghệ sĩ Hà Nội.
  • "Người Hà Nội" đã và đang làm tốt sứ mệnh lan tỏa văn hóa Thủ đô ngàn năm văn hiến
    "Người Hà Nội" sẽ mừng "sinh nhật" tuổi 40 vào ngày 8/5/2025. Chặng đường 40 năm xây dựng và phát triển, Người Hà Nội đã có được một “hệ thống” cộng tác viên là văn nghệ sỹ ở nhiều lĩnh vực: văn học, mỹ thuật, nhiếp ảnh, điện ảnh, lý luận phê bình;… các nhà báo, nhà nghiên cứu, nhà khoa học hàng đầu Thủ đô và cả nước.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Hà Nội thông qua chủ trương đầu tư Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng
    Sáng 11/5, tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề), HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • Kế hoạch tuyển sinh lớp 10, lớp 6, lớp 1 và mầm non tại Hà Nội
    Ban Chỉ đạo thi, tuyển sinh Thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch 01/KH-BCĐ về việc tổ chức thi, tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông và tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp 1, lớp 6 thành phố Hà Nội năm học 2026-2027.
Đừng bỏ lỡ
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
Vấn đề sinh thái trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO