Văn hóa – Di sản

Văn minh sông Hồng: Kết tinh và lan tỏa

PGS.TS Nguyễn Quang Miên 23/10/2025 07:22

Trong lịch sử nhân loại, những nền văn minh lớn thường nảy nở bên những dòng sông, nơi hội tụ điều kiện thuận lợi cho sản xuất, sinh sống và giao lưu. Trên thế giới, người ta thường nhắc đến các nền văn minh sông Nile ở Ai Cập, Lưỡng Hà ở Iraq, sông Hằng ở Ấn Độ, Hoàng Hà ở Trung Quốc hay Hy Lạp - La Mã ở Địa Trung Hải. Ở Việt Nam, lưu vực sông Hồng được coi là chiếc nôi của một nền văn minh lâu đời, hình thành từ thời tiền sử và phát triển rực rỡ suốt hàng nghìn năm. Văn minh sông Hồng không chỉ là kết quả của quá trình con người thích nghi và khai thác môi trường, mà còn là một thực thể văn hóa - xã hội có sức lan tỏa rộng, góp phần định hình bản sắc dân tộc và con người Việt Nam.

Sông Hồng - dòng sông mẹ của châu thổ Bắc Bộ bắt nguồn từ vùng núi cao tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), dài hơn 1.200 km nhưng hẹp nhiều ở thượng nguồn. Sau khi luồn lách qua hàng loạt dãy núi cao, lòng sông mở rộng khi cách biển khoảng 300 km, tạo thành đồng bằng châu thổ rộng lớn với hình tam giác, đỉnh là thành phố Việt Trì, cạnh đáy giáp đường bờ biển phía Đông. Trừ một số đỉnh núi sót lại, phần lớn bề mặt đồng bằng khá bằng phẳng, với độ cao trung bình từ 0,4 - 12m so với mực nước biển. Dòng sông chứa nhiều phù sa, cung cấp dưỡng chất nuôi sống đồng bằng. Vùng chảy qua sông hình thành các khu dân cư trù phú từ trung du, đồng bằng đến dải đất thấp ven biển.

untitled-8.jpg
Mô hình đường bờ biển Đông Nam Á khoảng 20.000 năm trước.

Nằm trong vành đai khí hậu cận nhiệt đới, ẩm với hai mùa đông - hè rõ rệt, vùng Bắc Bộ có gió mùa Đông Bắc vào mùa đông, gió Đông Nam vào mùa hè, mặt trời chiếu sáng quanh năm và lượng mưa dồi dào, trung bình 1.700 - 2.400 mm/năm. Đây là những điều kiện thuận lợi cho quần thể động - thực vật phát triển, hình thành hệ sinh thái phổ tạp với nhiều giống loài cùng sinh sống.

Dao động mực nước biển Đông cũng ảnh hưởng đến quá trình cư trú và di cư thời tiền sử. Nghiên cứu địa chất cho thấy vào khoảng 20.000 năm trước, trong giai đoạn băng hà Wurm2, mức nước biển Đông hạ xuống thấp tới -120 m so với hiện nay, tạo ra vùng đất liền rộng lớn nối bán đảo Đông Dương với các đảo ở Đông Nam Á và đảo Hải Nam (Trung Quốc), hình thành những tuyến đường bộ tự nhiên để các nhóm người tiền sử trong vùng di chuyển qua lại. Sau đó, khi chuyển sang thời kỳ biển tiến, mực nước biển dần dâng cao, làm ngập dần các phần đất thềm biển trước đó. Đặc biệt, khoảng 5.000 năm trước, mực nước biển đã cao hơn hiện nay, với độ cao cực đại gần +5 m, làm ngập chìm toàn bộ vùng đồng bằng châu thổ trước đó. Hệ quả tất yếu là cư dân phải chuyển dịch địa bàn lên các vùng cao hơn. Bao quanh đồng bằng sông Hồng là hệ thống núi đồi và vùng trung du bán sơn địa, vừa tạo vành đai che chở, vừa là nơi giao thoa giữa miền núi và đồng bằng, giữa lục địa và biển. Đây là vị trí chiến lược, vừa thuận lợi cho tự cung tự cấp, vừa dễ dàng giao lưu với các vùng khác. Và điều này không phải ngẫu nhiên khi trong tâm thức cư dân đồng bằng ngày nay, những ngọn núi thiêng như Ba Vì, Tam Đảo, Tam Điệp, Yên Tử vẫn được coi là nơi trú ngụ của các vị thần che chở.

untitled-9.jpg
Mô hình dao động mực nước biển Đông khoảng 5.000 năm cách nay.

Con người xuất hiện ở Bắc Việt Nam từ rất sớm, từ hậu kỳ đá cũ - đá mới sớm, cách nay hàng chục nghìn năm. Trong các sơn khối đá vôi ở Bắc Việt Nam, đã phát hiện nhiều di tích cư trú của người tiền sử như hang động hay mái đá khô thoáng, có ánh nắng trời trong thung lũng núi gần sông, suối. Dấu tích của họ được khẳng định trong các nền văn hóa khảo cổ như Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn, Soi Nhụ, với các di chỉ nổi tiếng được công nhận trong nước và quốc tế như Hang Chổ, Hang Xóm Trại, Mái đá Thần Sa, Mái đá Làng Vành, Tràng An, Con Moong... Nghiên cứu cho thấy họ thường cư trú theo nhóm nhỏ trong mái đá vôi trên sườn thung lũng, khai thác thức ăn từ rừng và nguồn nước xung quanh. Những đống rác bếp chất dày, lẫn với vỏ ốc suối và xương thú nhỏ cho thấy thời gian cư trú lâu, trong đó ốc suối là nguồn chất đạm chủ yếu. Bộ công cụ lao động đi kèm cũng thay đổi theo thời gian, từ cư trú theo mùa, sống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên đến cư trú lâu dài và canh tác các loại cây củ, rồi trồng lúa và làm lúa nước.

Vào khoảng cuối thời đại đá mới, cách đây khoảng 5.000 năm, trong chu kỳ biển thoái Holocen trung, khi mực nước biển Đông thấp dần, phần đồng bằng châu thổ sông Hồng mở rộng với nhiều nguồn lợi thủy hải sản và đất canh tác trên những bãi phù sa bồi đắp. Việc đi lại thuận tiện hơn dẫn đến sự dịch chuyển mạnh mẽ của các cộng đồng cư dân từ dải đồng bằng hẹp ven núi, đồi vùng trung du, tới các cánh đồng phù sa rộng lớn ven sông. Đây là những lớp cư dân của nền văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun. Tiếp nối truyền thống trước, kết tinh từ quá trình lao động, chế tạo công cụ, vật dụng, đồ trang sức, mỹ nghệ phục vụ nhu cầu làm đẹp và tâm linh, người xưa dần phát triển nền văn minh mang bản sắc riêng, với những thành tựu lớn.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, kết quả của quá trình phát triển lâu dài được xác định qua bằng chứng khảo cổ học: sự chuyển từ cư trú nhóm nhỏ, có quan hệ gần gũi (thị tộc, chòm xóm), cùng canh tác trong những đồng bằng hẹp giữa các thung lũng đá vôi vùng Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang, đến các cư trú cộng đồng nhiều gia đình tập trung kiểu làng, bản, cùng sản xuất ở chân đồi, núi, bên sông, suối vùng trung du ở Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây, rồi đến các cộng đồng đông đúc kiểu làng xã trong đồng bằng châu thổ như Gò Vườn Chuối, Đình Tràng (Hà Nội), Thủy Nguyên (Hải Phòng), Mán Bạc (Ninh Bình). Bộ công cụ lao động phát triển với rìu, cuốc bằng đá bán quý mài sắc bén, lưỡi cày, liềm, dao, lưỡi câu, mũi lao bằng đồng cứng. Việc thuần dưỡng vật nuôi đạt nhiều tiến bộ, với nhiều giống loài phục vụ sức kéo, giữ nhà, đi săn và cung cấp thịt. Dấu tích hạt lúa, hạt gạo bị cháy và tượng trâu, bò tại tìm thấy trong các di chỉ khảo cổ (Phùng Nguyên, Thành Dền, Đình Tràng, Đồng Đậu, Vườn Chuối) cho thấy sản xuất lúa, thóc, gạo đã phổ biến. Người xưa không chỉ gieo trồng theo mùa mà còn biết làm thủy lợi, đưa nước vào ruộng, đắp đê ngăn lũ, dự báo thiên tai và sử dụng trâu, bò để cày bừa, chọn lọc nhiều loại lúa thơm, ngon, chất lượng cao phù hợp thổ nhưỡng, như nếp cái hoa vàng, Tám thơm. Hình ảnh trên trống đồng Đông Sơn với những bông lúa, nhà sàn mái cong, người giã gạo, người đua thuyền… phần nào cho thấy kỹ thuật canh tác lúa nước và cuộc sống no ấm mà cây lúa nước mang lại.

Song song với nông nghiệp, nghề luyện kim và chế tạo đồ đồng cũng phát triển mạnh. Các mỏ quặng đồng phân tán trong châu thổ, khai thác dễ dàng, cùng buôn bán đường dài, tạo điều kiện phát triển thủ công nghiệp chuyên nghiệp. Trong văn hóa Đông Sơn, kỹ thuật đúc đồng đạt bước tiến vượt bậc về cả kỹ thuật lẫn mỹ thuật, từ sản phẩm thuần thực dụng như rìu, giáo, dao, mũi tên, lưỡi cày, đến sản phẩm nghệ thuật như tượng người, đồ trang sức, nhạc cụ, thạp đồng, với đỉnh cao là trống đồng Đông Sơn. Trống được làm bằng kỹ thuật khuôn đúc có nhiều mang ghép, kết hợp hệ thống con kê để đạt độ mỏng đều, hợp kim đồng - thiếc - chì được lựa chọn cẩn thận để tránh nứt vỡ, co ngót, hoa văn sắc nét. Họa tiết trang trí mang tính bản địa, kế thừa truyền thống trước như hình mặt trời, đàn chim Lạc, nhà sàn mái cong, người giã gạo, người đua thuyền, bố trí đối xứng và lặp lại theo vòng tròn, biểu thị chu kỳ gieo trồng lúa trong năm. Các mảnh khuôn đúc trống đồng khai quật ở Luy Lâu, Bắc Ninh cho thấy tính bản địa, sức sống bền vững của thành tựu văn hóa này.

Cùng với nông nghiệp và thủ công nghiệp, tổ chức xã hội cũng phát triển. Sự gia tăng dân số và nhu cầu liên kết cộng đồng để đắp đê, chống ngoại xâm, giải quyết tranh chấp, bảo vệ mùa màng đã hình thành liên minh mới giữa các bộ lạc trong vùng châu thổ Bắc bộ với người đứng đầu gọi là vua Hùng, dưới quyền là các Lạc hầu, Lạc tướng quản lý từng bộ lạc. Nhà nước Văn Lang được hình thành, đánh dấu nền chính quyền tập trung đầu tiên, truyền qua nhiều đời vua Hùng, tiếp nối bằng nhà nước Âu Lạc của vua An Dương Vương, với kinh đô đóng tại Cổ Loa (Hà Nội) ngày nay. Các di tích khai quật cho thấy dấu vết bức tường thành được đào đắp công phu. Nhiều kho chứa mũi tên đồng, trống đồng, lưỡi cày đồng, đặc biệt trong khu vực đền Thượng (gần nơi cung cấm trước kia) có xưởng đúc mũi tên đồng. Những dấu vết này cho thấy đây có thể là một trong những kinh thành sớm nhất Đông Nam Á, chứng minh trình độ tổ chức và quản trị xã hội của cha ông ta trong nền văn minh sông Hồng.

untitled-10.jpg
Sơ đồ kinh thành Cổ Loa

Văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng tôn giáo cũng phát triển phong phú. Tín ngưỡng dân gian bản địa hình thành và phát triển với vạn vật hữu linh, thờ các vị thần tự nhiên (thần núi, thần sông, thần rừng), ông bà tổ tiên, Mẫu, Đức Thánh Tản Viên, Đức Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, vua Hùng, Thành hoàng làng… Văn hóa dân gian đa dạng với lễ hội xuống đồng, rước nước, lễ mừng cơm mới, hát cầu mùa, hát giao duyên, hát hầu thánh… trong đó nhiều loại hình được UNESCO công nhận là di sản văn hóa nhân loại. Trong quá trình phát triển, nhờ là nơi giao lưu kinh tế - văn hoá khu vực và quốc tế, mà văn minh sông Hồng đã có giao lưu và hội nhập với nhiều loại hình tôn giáo tín ngưỡng khác nhau… để có thêm những loại hình văn hoá nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo mới, song vẫn mang nét bản địa của nền văn minh gốc. Có thể thấy qua những khác biệt với nơi xuất phát của các tôn giáo này, như: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Kitô giáo… Sự lan tỏa quốc tế của văn minh sông Hồng được chứng minh qua việc trống Đông Sơn xuất hiện ở Indonesia, Lào, Campuchia, Thái Lan, Nam Trung Quốc. Đến nay, nhiều giá trị của văn minh sông Hồng vẫn hiện hữu trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, từ nông nghiệp, kiến trúc, làng nghề truyền thống, âm nhạc, tín ngưỡng, đến ứng xử với thiên nhiên, thể hiện sức sống bền bỉ vượt thời gian. Một số cộng đồng quốc tế còn học hỏi kỹ thuật lúa nước từ nền văn minh này, cho thấy tầm ảnh hưởng sâu rộng và giá trị trường tồn của nền văn minh sông Hồng./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
  • Bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng - TP Hà Nội: Hương vị mộc mạc lưu giữ ký ức Hà thành
    Giữa sự thay đổi không ngừng của văn hoá ẩm thực Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì vẫn giữ được dấu ấn riêng bằng hương vị giản dị và kỹ thuật chế biến thủ công đặc trưng. Từ những gánh hàng rong xưa đến những cơ sở sản xuất ngày nay, món ăn làm từ hạt gạo quê này không chỉ phản ánh nét tinh tế trong văn hóa ẩm thực Thủ đô mà còn lưu giữ câu chuyện về một nghề truyền thống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
  • Làng Vạn Phúc giữ gìn cốt cách văn hóa trong dòng chảy hiện đại
    Bước chân vào làng Vạn Phúc, người ta dễ dàng cảm nhận sự giao thoa giữa quá khứ và hiện tại. Những mái đình, ngôi chùa cổ kính, những câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác và nhịp sống bình dị của người dân đã tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng, nơi ký ức của vùng quê Bắc Bộ vẫn được nâng niu, gìn giữ qua năm tháng.
  • Tôn vinh di sản, lan tỏa thương hiệu “Huế - Kinh đô Áo dài”
    Tuần lễ Áo dài Huế 2026 với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch đặc sắc trải dài trên nhiều không gian di sản, danh thắng và địa điểm văn hóa tiêu biểu của TP Huế sẽ diễn ra từ ngày 3 - 10/7.
  • Công bố xếp hạng đình Liễu Cốc Thượng là Di tích cấp TP Huế
    Bảo tồn nhiều tư liệu, sắc phong cùng các giá trị văn hóa gắn với đời sống tâm linh, phong tục tập quán của người dân đã trải qua hơn 500 năm nên đình Liễu Cốc Thượng được xếp hạng Di tích cấp TP Huế.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Dưới gốc cây thanh trà
    Tháng sáu về mang nắng gió rải đều trên khắp con đường, ngõ xóm, tôi mon men chân trần đi trên đám cỏ non dẫn vào khu vườn kí ức, ở đó, đám cây thanh trà đang rộ, quả vàng chín mọng, căng mình dưới lớp lá xanh đậm. Mùa này là mùa của những dư vị thanh thanh nơi đầu lưỡi, tôi có thể thả mình vào nơi mát mẻ của khu vườn, nghe tiếng ve thao thiết gọi hè. Những quả thanh trà được tưới đẫm nước, lấp lánh vàng, căng mọng, chỉ chờ tay người hái.
  • Tiểu thuyết “Phi công” - kiệt tác văn học đương đại Nga ra mắt độc giả Việt
    Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam vừa giới thiệu tới bạn đọc tiểu thuyết “Phi công” của nhà văn Nga đương đại Evgeny Vodolazkin, do dịch giả Phan Xuân Loan chuyển ngữ. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết Nga nổi bật nhất của thập niên 2010.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Em trai
    Tôi sinh ra và lớn lên tại một ngôi làng hẻo lánh, nghèo nàn trên đỉnh núi. Ngày qua ngày, cha mẹ tôi “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” cày xới đám đất khô đã ngả vàng nuôi gia đình mà vẫn khó khăn. Mùa xuân, hoa lá cỏ cây đua nhau nở nhưng nhà chúng tôi lúc nào cũng màu xám...
  • Tiếp nối hành trình nhân ái: Mang “nhịp đập khỏe mạnh” đến với hơn 500 trẻ em vùng khó
    Tiếp nối thành công và những giá trị nhân văn sâu sắc từ chương trình tầm soát tại các xã Giao Hòa, Giao Thủy và Giao Bình, hành trình mang “nhịp đập khỏe mạnh” đến với trẻ em vùng cao lại vừa viết tiếp một chương mới đầy ý nghĩa. Ngày 28/6, Chi cục Dân số và Trẻ em tỉnh đã phối hợp cùng Bệnh viện Tim Hà Nội và Trạm Y tế xã Cúc Phương (tỉnh Ninh Bình) tổ chức chiến dịch khám, sàng lọc bệnh lý tim mạch hoàn toàn miễn phí cho thế hệ mầm non trên địa bàn các xã: Cúc Phương, Thanh Sơn và Phú Long.
  • Dưới tán phong linh – những mùa xuân tuổi học trò
    Mọi người thường nghĩ rằng hoa đào bừng nở hồng tươi khắp đường phố đã là cảnh xuân đẹp nhất của Hà Nội. Tuy nhiên, khi những tán phong linh bắt đầu ra hoa, người ta mới nhận ra rằng ở Thủ đô vẫn còn một vẻ đẹp khác, tĩnh lặng và đầy chất thơ.
Đừng bỏ lỡ
  • Truyện tranh “Thần Giấy Hlabar”: Đưa lịch sử chữ viết Bahnar đến với thiếu nhi
    Hơn ba năm sau “Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ”, bộ đôi tác giả Phạm Thị Kiều Ly - Tạ Huy Long tiếp tục giới thiệu truyện tranh “Thần Giấy Hlabar - Sử thi nhỏ về chữ viết Bahnar”. Tác phẩm được chuyển thể từ một công trình nghiên cứu về lịch sử chữ viết Bahnar, qua đó góp phần đưa đề tài ngôn ngữ học đến gần độc giả nhỏ tuổi.
  • Vở kịch "Ngược chiều bình an" và hành trình nghệ thuật nối dài mạch nguồn tri ân
    Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ, trong tháng 7 và tháng 8, Nhà hát Kịch Việt Nam sẽ tổ chức chuyến lưu diễn xuyên Việt với vở kịch “Ngược chiều bình an” — một tác phẩm sân khấu mang đậm ý nghĩa tri ân, tưởng nhớ và tôn vinh những con người đã hy sinh vì dân, vì nước.
  • Tái hiện thiên tình sử bất hủ giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Công chúa Thiên Thành
    Vở cải lương “Tình sử Đông A” tái hiện thiên tình sử bất hủ giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Công chúa Thiên Thành, đưa khán giả trở về với một giai đoạn lịch sử rực rỡ, nơi tình yêu, lòng trung nghĩa và khí phách dân tộc cùng tỏa sáng. Đêm diễn sẽ chính thức được mở màn vào lúc 20h00 ngày 27 tháng 6 năm 2026 tại Rạp Chuông Vàng, số 72 Hàng Bạc, Hà Nội.
  • Hà Nội tăng cường phát triển xuất bản trong tình hình mới, lan tỏa văn hóa đọc và sức mạnh mềm văn hóa Thủ đô
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Hướng dẫn số 38-HD/BTGDVTU ngày 22/6/2026 về quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Hướng dẫn xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm phát triển xuất bản theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gắn với phát triển văn hóa đọc, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số trên địa bàn Thủ đô.
  • "Trải nghiệm văn hóa dân gian truyền thống" tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Từ ngày 1 đến 31/7/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra chuỗi hoạt động tháng 7 với chủ đề "Trải nghiệm văn hóa dân gian truyền thống", mang đến nhiều chương trình trải nghiệm, giao lưu và thực hành di sản dành cho công chúng, đặc biệt là thanh thiếu niên trong dịp hè.
  • Khai mạc Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026
    Tối 26/6, tại Hà Nội, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với Hãng phim Quốc gia Belarus (Belarusfilm) và Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus tổ chức lễ khai mạc Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026.
  • Khai mạc Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026: Tôn vinh giá trị của sen trong đời sống người Việt
    Tối 26/6, tại Vườn hoa Lý Tự Trọng, Sở Du lịch Hà Nội phối hợp với UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Sắc Sen Hà Nội”. Đây là sự kiện văn hóa - du lịch quy mô lớn nhằm tôn vinh giá trị của sen trong đời sống người Việt, đồng thời góp phần xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa đặc trưng của Thủ đô gắn với hình ảnh hoa sen.
  • Tầm nhìn thế kỷ để Thủ đô Hà Nội bứt tốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
    Trong suốt tiến trình lịch sử phát triển đô thị của Việt Nam, chưa có một văn kiện nào thể hiện chiều sâu không gian và chiều dài thời gian vĩ mô như Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính chị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 đánh dấu một bước ngoặt tư duy mang tính cách mạng, thay thế các góc nhìn ngắn hạn bằng một hệ kiến trúc chính sách mang tầm thế kỷ cho Hà Nội.
  • Thêm một không gian vui chơi cho trẻ tại Phố Sách Hà Nội
    Sáng 26/6, tại Phố Sách Hà Nội (phố 19 háng 12, phường Cửa Nam), UBND phường Cửa Nam phối hợp với Tập đoàn Picenza Việt Nam, doanh nghiệp xã hội Think Playgrounds và Ban Quản lý Phố Sách Hà Nội tổ chức ra mắt Khu vui chơi - Chòi chơi Phố sách, hưởng ứng kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026).
  • Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026
    Từ ngày 26 đến 28/6/2026, tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Hà Nội), Cục Điện ảnh phối hợp với Hãng phim Quốc gia Belarus (Belarusfilm) và Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus tổ chức “Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026”.
Văn minh sông Hồng: Kết tinh và lan tỏa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO