Làng Vạn Phúc giữ gìn cốt cách văn hóa trong dòng chảy hiện đại
Bước chân vào làng Vạn Phúc, người ta dễ dàng cảm nhận sự giao thoa giữa quá khứ và hiện tại. Những mái đình, ngôi chùa cổ kính, những câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác và nhịp sống bình dị của người dân đã tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng, nơi ký ức của vùng quê Bắc Bộ vẫn được nâng niu, gìn giữ qua năm tháng.
Vạn Phúc - ngôi làng cổ nằm bên hữu ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Nam Phù, thành phố Hà Nội không chỉ mang trong mình bề dày truyền thống lịch sử, mà còn hiện hữu như một không gian làng quê Bắc Bộ vừa mang hơi thở hiện đại, vừa đậm sắc thái văn hóa cổ truyền. Nơi đây, con người đã vượt lên khỏi ý nghĩa sinh kế, trở thành mạch nguồn gìn giữ văn hóa bền bỉ, kết nối ký ức ngàn năm với nhịp sống đương đại.
Ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn văn hóa
Muốn hiểu về Vạn Phúc hôm nay, phải ngược dòng ký ức trở về với sông Hồng, dòng sông đã bồi đắp nên không gian sinh tồn, đồng thời cũng là chứng nhân của toàn bộ tiến trình hình thành làng quê ven bờ.
Làng Vạn Phúc trước sáp nhập gồm bốn thôn: Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3, Thôn 4 của xã Vạn Phúc (huyện Thanh Trì), Nay là Vạn Phúc thuộc xã Nam Phù. Đầu thế kỷ XIX là “Vạn Phúc châu” thuộc tổng Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (năm 1831 đổi làm tỉnh Hà Nội, năm 1904 thuộc tỉnh Hà Đông). Sau Cách mạng, làng nhập với làng Mỹ Ả thành xã mang tên Vạn Phúc.
Vạn Phúc nằm ven sông Hồng, có vùng bãi màu mỡ nên được con người khai phá từ rất sớm. Làng thờ vị thần tên là Uy Mang (hay Hồng Mang), theo thần phả là con trai của Vua Hùng Nghị Vương và là anh em sinh đôi với ngài Hồng Bác. Ông là vị tướng văn võ song toàn, có công lớn giúp vua cha giữ yên bờ cõi, sau khi qua đời được phong Phúc thần và được 27 làng xã phụng thờ. Đình Thượng thờ vị thần hoàng làng là Linh thần. Hiện nay, Đình còn lưu giữ sắc phong thành Hoàng làng của Vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng ban cho thần Uy Mang.

Làng Vạn Phúc in đậm nhiều dấu ấn của lịch sử đất nước. Tháng Giêng năm Giáp Tý (544), Lý Bí (Lý Bôn) sau khi khởi binh đánh đuổi được Thứ sử Tiêu Tư của nhà Lương đã xưng vua, đặt tên nước là Vạn Xuân, niên hiệu là Thiên Đức, dựng điện Vạn Xuân. Theo tương truyền thì điện Vạn Xuân ở bên hồ Vạn Xuân (xưa gọi là Vạn Xoan), chính là đầm Vạn Phúc bên bờ sông Hồng.
Năm Bính Ngọ (1426), nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi, Nguyễn Trãi chỉ huy đóng quân ở Tây Phù Liệt (xã Đông Phù ngày nay). Hai ông đã cho tôn đê Vạn Xuân, biến đoạn đê này thành chiến lũy quan trọng để bao vây thành Đông Quan của giặc Minh.
Tháng Sáu, năm Bính Ngọ (1786), quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tấn công ra Bắc diệt nhà Trịnh. Chúa Trịnh đã bố trí một lực lượng lớn quân do tướng Hoàng Phùng Cơ chỉ huy, đóng ở đầm Vạn Phúc để ngăn chặn. Song, quân chúa Trịnh bị đánh tan ngay từ trận đầu. Sáu người con của Hoàng Phùng Cơ chết trong trận này. Cơ và 2 người con còn lại cướp đường chạy về Thăng Long.

Theo truyền tụng dân gian, vùng đất này gắn với ông Địch Vạn. Lúc đó, bên bờ sông Hồng đối diện làng Vạn Phúc có cây gỗ lớn và quý, vua sai nhiều quân lính đem về nhưng không thể khiêng nổi, nhà vua đã ra lệnh sang làng Vạn Phúc tìm người vác gỗ, Ông Địch Vạn đã nhận vác. Vua xuống chiếu: “Nếu vác được vua thưởng công danh, ban phẩm hàm, vàng bạc”. Ông Địch Vạn không giám nhận mà chỉ xin đất vì dân làng còn nghèo. Vua đồng ý “Nếu nhà ngươi vác được cây gỗ đến đâu trẫm cho kẻ bản đồ cấp đất đến đó”. Ông đã vác được cây gỗ. Vua giữ đúng lời hứa ban cho dải đất dài, ông đã hiến số đất chia cho dân làng gọi là bãi Thiên Cương Lưu Địa Tích. Hiện tại nhân dân vẫn sang canh tác và sản xuất trên mảnh đất này.

Làng Vạn Phúc còn là chứng danh cho mối tình giao hảo, tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau của nhân dân các làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tương truyền rằng: thời nhà Lý, đoạn đê Đỉnh Nhĩ ở phía Nam kinh thành mười ba năm liền đều bị vỡ. Nhà vua truyền lập đàn cầu thiên địa phù giúp việc đắp đê để trăm họ khỏi lầm than. Tuy vậy, công việc đắp đê qua nhiều năm vẫn không thuận, vùng phía Nam kinh thành vẫn thường bị lụt lội. Sau đó vua nằm mộng có Thần báo về: Muốn đắp được đê phải hạ chiếu cho dân Địch Vạn (tức xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì) mới thành công. Rồi vua hạ chiếu giao cho làng Vạn Phúc việc đắp đê. Làng Vạn Phúc đắp đê thành công, chiến thắng được lũ. Khi việc đắp đê xong xuôi, dân Vạn Phúc mới biết đoạn đê Đỉnh Nhĩ này thuộc địa phận do làng Nga My đảm trách (thuộc xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai, Hà Nội). Khi dân Nga My kéo đến đắp đê thì mọi việc đã hoàn tất. Dân làng Nga My cảm tạ ân nghĩa sâu nặng của dân làng Vạn Phúc đã tâu lên nhà vua xin cho hai làng kết nghĩa giao hảo để tiếp tục giúp đỡ lẫn nhau những lúc hoạn nạn, khó khăn. Đến nay, trải qua nhiều biến cố lịch sử nhưng hai làng vẫn giữ trọn nghĩa, vẹn tình như anh em.
Làng Vạn Phúc từ lâu cũng được biết đến là vùng đất nổi tiếng với truyền thống học tập, khoa bảng, nơi khơi nguồn các bậc danh khoa như: Lê Sạn đỗ Bảng nhãn khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống đời Vua Lê Hiến Tông (năm 1502), khi ông mới 26 tuổi đã làm quan đến Thượng thư bộ Lại, từng đi sứ sang nhà Minh; hay ông Nguyễn Tống đỗ cử nhân tại trường thi Hà Nội năm Tân Sửu niên hiệu Thiệu Trị 1841.
Khi nhắc đến Vạn Phúc, không thể không nhắc đến chùa Tiên Linh, tên Nôm là chùa Trắng hay chùa Bụt Mọc. Tục truyền, vào thời Vua Lý Thái Tổ (1009 - 1028), có một năm đê vỡ, dân làng thấy một pho tượng trôi trên đầm Vạn Xuân, liền làm lễ khấn trời Phật; lễ xong thì tượng dừng trôi. Vua biết tin liền sức cho dân làng dựng am thờ và cho đặt tên chùa là Bụt Mọc, song dân làng thường quen gọi là chùa Trắng. Sau đó, chùa được mở mang khang trang, nhưng do chiến tranh và thiên tai nên chùa bị xuống cấp, đổ nát dân, hiện chỉ còn hậu cung và trụ cổng chùa.
Ngoài chùa Tiên Linh, chùa Chung Linh Tự và Đình làng Vạn Phúc cũng là những di tích lịch sử nổi tiếng đã được Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử - văn hóa vào năm 1992.

Không chỉ dừng lại ở vai trò là một làng quê nông nghiệp, Vạn Phúc còn giữ vị trí quan trọng trong các giai đoạn lịch sử của dân tộc. Từ thời Lam Sơn với chiến lũy Vạn Xuân, đến thời Tây Sơn với hành trình tiến quân ra Bắc, rồi trong kháng chiến chống Pháp, chính Làng Vạn Phúc là nơi che chở, liên lạc và hoạt động cách mạng. Làng Vạn Phúc từ lâu đã được biết đến là cái nôi sản sinh ra những người con ưu tú sẵn sàng hiến dâng xương máu vì độc lập dân tộc.

Gìn giữ hồn cốt văn hóa trong dòng chảy phát triển hiện đại
Nếu lịch sử là phần gốc rễ làm nên chiều sâu của Vạn Phúc thì văn hóa chính là linh hồn tạo nên sức sống trường tồn của ngôi làng. Trải qua biến động của dòng chảy thời gian, Vạn Phúc vẫn bảo lưu được một không gian văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, nơi đình, chùa, đền... cùng hiện diện trong sự hài hòa, phản ánh đời sống tinh thần phong phú và tinh thần đoàn kết của cộng đồng cư dân ven sông Hồng.
Mỗi công trình không đơn thuần là một di tích kiến trúc mà là một “bảo tàng ký ức” lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa của làng quê Bắc Bộ. Đình làng với những sắc phong cổ từ thời Lê; chùa Vạn Phúc với chuông đồng, bia đá và những hiện vật quý có niên đại hàng trăm năm; chùa Tiên Linh với truyền thuyết Bụt Mọc và những dấu ấn cách mạng... tất cả hợp thành một quần thể di sản giàu giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh.



Song có lẽ, điều làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của Vạn Phúc không chỉ nằm ở những di sản hữu hình mà còn ở những giá trị văn hóa phi vật thể vẫn đang được cộng đồng gìn giữ nguyên vẹn qua nhiều thế hệ.
Mỗi độ xuân về, khi hơi lạnh cuối mùa còn vương trên mặt sông Hồng, cả làng lại náo nức bước vào mùa lễ hội truyền thống. Trong sắc cờ ngũ sắc rực rỡ, trong tiếng trống hội ngân vang khắp xóm làng, những nghi lễ cổ truyền được tái hiện với sự thành kính và trang nghiêm.

Đặc sắc nhất là nghi thức rước cấp thủy, một nghi lễ mang đậm dấu ấn văn minh lúa nước của cư dân đồng bằng Bắc Bộ.
Đoàn rước xuống thuyền ra giữa dòng sông lấy nước thiêng về để Mộc dục thánh tượng nhưng cũng bao hàm ý nghĩa là tạ Thủy Thần Hà Bá cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, bão tố thuyên quy, thủy triều bình ổn. Hành trình ấy tưởng chừng giản dị nhưng lại chất chứa trong đó triết lý sống được gìn giữ suốt hàng nghìn năm: Sự tôn kính đối với thiên nhiên, lòng biết ơn đối với nguồn nước và khát vọng về một cuộc sống no đủ, bình yên.


Giữa không gian mênh mang của sông nước, khi tiếng chiêng trống hòa cùng tiếng sóng, khi con thuyền rước nước lướt nhẹ trên dòng sông đỏ nặng phù sa, người ta có cảm giác như quá khứ và hiện tại đang gặp nhau trong cùng một khoảnh khắc thiêng liêng. Đó không chỉ là một nghi lễ. Đó là ký ức tập thể của cả một cộng đồng được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Dù cuộc sống hiện đại có nhiều thay đổi, người Vạn Phúc vẫn kiên tâm gìn giữ truyền thống, văn hóa quê hương đã tồn tại hàng ngàn năm tuổi và coi đó là sứ mệnh tự thân của mỗi người dân làng Vạn Phúc hôm nay./.