Lý luận - Phê bình

Chỉ một giây lắng lòng là đủ

Lời bình của Hồ Minh Tâm 07:58 20/05/2026

Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.

Màu hoa đỏ

Có người lính
mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo
có người lính
mùa xuân ấy ra đi từ ấy không về

Dòng tên anh khắc vào đá núi
mây ngàn hóa bóng cây che
chiều biên cương trắng trời sương núi
mẹ già mỏi mắt nhìn theo

Việt Nam ơi! Việt Nam!
núi cao như tình mẹ bốn mùa tóc bạc
nỗi thương con
Việt Nam ơi! Việt Nam!
ngọn núi nơi anh ngã xuống
rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa
rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn…

Nguyễn Đức Mậu

480928127_579562915086013_3132915015364450855_n.jpg

Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.

Có những bài thơ, khi đọc qua, người ta dễ dàng gật đầu: hay. Hay vì ngôn từ mới lạ, vì hình ảnh bất ngờ, vì cấu trúc cao tay. Nhưng cũng có những bài thơ, càng đọc lại càng thấy “không thơ” theo nghĩa thông thường của thi pháp: câu chữ quen, giọng điệu nhẹ, không có đột phá về hình ảnh hay nhịp điệu. Thế nhưng, chính những bài thơ “không hay” ấy lại sống rất lâu trong lòng người đọc, bền bỉ theo thời gian. “Thời hoa đỏ” của Nguyễn Đức Mậu là một bài thơ như thế.

Nếu đặt lên bàn cân của kỹ thuật thơ thì bài thơ này không có gì nổi bật. Cách vào đề là một lời kể: “Có người lính…”. Không phải một hình ảnh gợi mở, không phải một ẩn dụ, nó giống như một câu chuyện bắt đầu từ một hồi tưởng.

Cả bài thơ đi theo một mạch kể chậm rãi, nhẹ nhàng, rõ từng từng âm tiết. Không có những đoạn gấp khúc, không có sự phá cách ngôn ngữ, cũng không có những liên tưởng. Người đọc có cảm giác như đang ngồi nghe một người bạn kể chuyện, nghe đến mức quên mất mình đang đọc một tác phẩm thi ca được dụng công. Chính sự “không dụng công lộ diện” đã hé lộ: dường như nhà thơ không có ý định “làm thơ”.

Chỉ là nhớ lại bằng tiếng thì thầm: “Có người lính/ mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo/ có người lính/ mùa xuân ấy ra đi từ ấy không về”. Không hô hào, không bi tráng, không dựng lên những tượng đài lớn lao. Nó giống như một cái cúi đầu, một sự kể lại dường như không cần bận tâm người nghe có lay động hay không. Chính giọng điệu giản dị ấy khiến ta mường tượng: không phải nhà thơ đang kể mà là một người lính sống sót sau cuộc chiến đang nhớ lại những ngày đã qua.

“Có người lính” chứ không phải “có một người lính”. Không phải một cá nhân cụ thể mà là một số nhiều vô danh. Một lớp người, một thế hệ. Chính cách nói ấy đã mở rộng không gian bài thơ, khiến nó không còn là câu chuyện riêng lẻ mà trở thành ký ức chung. Người đọc có thể tự điền vào đó những gương mặt quen thuộc của mình: cha, anh, bạn, những đoàn quân lặng lẽ qua làng, hay đau đớn hơn là trùng trùng bia mộ trắng với dòng chữ “liệt sĩ chưa có tên”.

Và “mùa thu ấy”, “mùa xuân ấy” cũng vậy. Không xác định, không cụ thể nhưng lại gợi ra rất nhiều mùa: mùa thu của những năm đầu kháng chiến, mùa xuân của ngày đất nước thống nhất, hoặc bất cứ mùa nào khi trai tráng rời tầm mắt âu lo của mẹ để bước vào chiến tuyến. Sự mơ hồ ấy không phải là vụng về mà là một dụng ý nhằm nới rộng ký ức. Điểm nhìn giờ đây không còn bị đóng khung, mất mát cũng không còn bị cụ thể hóa.

Từ đó, bài thơ chuyển dần trọng tâm. Hình ảnh người lính không hiện lên trực diện mà thấp thoáng qua cái nhìn của người ở lại:“Dòng tên anh khắc vào đá núi/ mây ngàn hóa bóng cây che/ chiều biên cương trắng trời sương núi/ mẹ già mỏi mắt nhìn theo.”
Tôi rất thích cái khung hình “chiều biên cương trắng trời sương núi” qua cái nhìn đến mỏi mắt của người mẹ. Chúng ta không thấy cái chết được lộ rõ nhưng lại thấy cái thiếu vắng chất đến trắng trời. Hình ảnh người mẹ “mỏi mắt” trở thành điểm nhấn.“Mỏi mắt” vì nhìn nhìn ngóng về xa, vì chờ đợi, vì hy vọng, và cũng vì chờ một điều mà sâu thẳm biết rằng sẽ không đến. Cái “mỏi mắt” ấy như một bánh răng nghiền thời gian tan ra vô tận, từ mùa này sang mùa khác, từ đời này sang đời khác. Chính cái nhìn ấy lay động tận đáy sâu căn tính của bài thơ. Nó mảy may màng đến vinh quang mà chạm vào phần sâu thẳm nhất: nỗi đau của người ở lại.

“Trắng trời sương núi” vì thế không chỉ là một phông nền thiên nhiên. Nó là ký ức nhòe đi, là khói hương, là khoảng trống che mờ mọi dấu vết. Để rồi mồn một hiện lên hình ảnh người con trai “chưa về”.

Điệp khúc “Việt Nam ơi! Việt Nam!” xuất hiện sau đó mở ra một âm hưởng khác. Nếu hai khổ đầu là giọng kể lặng lẽ thì đoạn cuối như một hợp xướng dâng trào cảm xúc: “Việt Nam ơi! Việt Nam/ núi cao như tình mẹ bốn mùa tóc bạc nỗi thương con/ Việt Nam ơi! Việt Nam!/ ngọn núi nơi anh ngã xuống/ rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa/ rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn”
Ở đây, tình mẹ được nâng lên thành hình tượng đất nước. Núi không đơn thuần là núi nữa mà giờ đây được chất cao ánh nhìn, chất cao nỗi nhớ, núi như một chướng ngại vật mà mẹ đành cam chịu.

Và rồi bài thơ khép lại bằng một hình ảnh vừa đẹp, vừa dữ dội: “rực cháy lên màu hoa đỏ…”. “Màu hoa đỏ” có thể là hoa chuối rừng, có thể là máu, có thể là hoàng hôn… Nhưng điều quan trọng không nằm ở việc xác định nó là gì, mà ở trạng thái của nó: “rực cháy”. Cái chết không còn hiện ra như một kết thúc mà được chuyển hóa thành ánh sáng, thành màu sắc. Và sự chuyển hóa ấy đã tạo nên một vẻ đẹp rất đặc biệt, không bi lụy nhưng cũng không hề nhẹ nhàng.

Đặt bài thơ vào bối cảnh hôm nay, khi đất nước đã đi qua chiến tranh, khi những đô thị ngày càng lấp lóa ánh đèn, khi đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, thì nó lại mang một ý nghĩa khác. Nó trở thành một lời nhắc. Nhắc về một thời mà nhìn đâu cũng lúp xúp mái tranh, nhắc về những người mẹ đã chờ đợi trong vô vọng.
Nhìn rộng ra thế giới, ta vẫn thấy những “màu đỏ” khác đang xuất hiện mỗi ngày: những cuộc chiến, những đổ nát, những đứa trẻ lớn lên trong thiếu thốn và sợ hãi… Vì thế, “màu hoa đỏ” không chỉ còn là ký ức của một dân tộc mà trở thành một biểu tượng rộng hơn, chạm tới nỗi đau chung của nhân loại. Bài thơ như một chiếc cầu trắng vắt dọc quá khứ với hiện tại và cả tương lai.

Có thể nói, “Thời hoa đỏ” không phải là một bài thơ hay theo nghĩa kỹ thuật. Nó không làm người đọc phải trầm trồ bởi sự tài hoa của ngôn từ nhưng nó làm được một điều khó hơn: khiến người ta lặng đi. Và chính sự lặng đi ấy là dấu hiệu của một giá trị bền lâu của thơ./.

Bài liên quan
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
(0) Bình luận
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Truyện ngắn: Người cha
    Viễn ngồi trên bờ biển nhìn ra xa xăm, ngọn hải đăng lấp lóa trước mắt. Sóng dịu êm vỗ nhẹ bờ cát, xa xa những con thuyền ra khơi tiếp tục bám biển, nhỏ dần, nhỏ dần trước mắt anh. Cảm giác như biển cả bao la rộng lớn này sẽ nuốt chửng những con thuyền bé nhỏ kia chỉ sau một cơn bão. Lòng đầy lo âu, ngày thứ bảy ở vùng này, anh không thấy cha trở về...
  • Chùm thơ của tác giả Khang Sao Sáng
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Khang Sao Sáng.
  • [Podcast] Tản văn: Phố núi đợi mùa
    Sớm mai thức giấc, cơn gió mang cái lạnh se sắt từ đâu ùa về. Tia nắng mỏng manh không đủ sức tan đi giọt sương khuya còn ướt đầm trên lá, ngược lại, biến chúng thành những viên ngọc lóng lánh cười trong nắng. Mới dăm hôm trước, nắng thu vẫn còn ấm áp cả không gian, mà nay, khí trời bàng bạc như thể mùa đông chạm ngõ. Ngó bên hiên nhà, hoa dã quỳ bừng nở, thay thời gian báo hiệu mùa về.
  • Xã Thanh Oai tiếp tục chi trả gần 280 tỷ đồng GPMB phục vụ Dự án Khu đô thị thể thao Quốc tế Hà Nội
    Thông tin từ UBND xã Thanh Oai (TP Hà Nội), ngày 3/7, chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan đã phối hợp tổ chức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng để thực hiện Dự án Khu đô thị Thể thao Quốc tế Hà Nội cho 86 hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi tại thôn Động Giã (nay là thôn Đỗ Động) trên địa bàn với tổng kinh phí hơn 279 tỷ đồng.
  • Đào Nhật Tân - Hoa Tết của người Hà Nội
    Không phải ngẫu nhiên mà Hà Nội được người đời trìu mến gọi là thành phố của những mùa hoa. Mười hai tháng ở nơi đây là mười hai sắc hoa đặc trưng, từ thanh tao dịu nhẹ đến rực rỡ nồng nàn. Chúng luân phiên tô điểm cho từng tuyến phố, biến những con đường ở đất kinh kỳ vốn trầm mặc, rêu phong trở thành những bức tranh tuyệt sắc, sống động, khiến cho lòng người không khỏi xốn xang, say đắm.
Đừng bỏ lỡ
Chỉ một giây lắng lòng là đủ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO