Văn hóa – Di sản

Khuông Việt Ngô Chân Lưu – đại sư không phò nước Việt

Nguyễn Hữu Sơn 24/10/2023 10:42

Đại sư Khuông Việt (933 - 22.3.1011), còn có tên là Ngô Chân Lưu, người hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Thuở nhỏ học sách Nho, sau theo thiền sư Vân Phong học đạo Phật ở chùa Khai Quốc trong thành Đại La rồi trở thành môn đệ thế hệ thứ tư dòng thiền Vô Ngôn Thông. Theo sách Phả hệ họ Ngô Việt Nam, ông là con cả của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập, anh của sứ quân Ngô Xương Xí. Sách Thiền uyển tập anh ghi chép khá chi tiết về cuộc đời ông. Đến năm 40 tuổi, Ngô Chân Lưu đã là người tinh thông Phật học, được vua Đinh Tiên Hoàng trao chức Tăng thống và ban hiệu Khuông Việt Đại sư. Dưới triều vua Lê Đại Hành, ông luôn được coi trọng, nhiều lần được mời vào cung bàn việc nước.

dai-su-khuong-chan-luu.jpg
Khuông Việt Ngô Chân Lưu.

Sách Thiền uyển tập anh chép:

“Dưới triều vua Lê Đại Hành, sư đặc biệt được vua kính trọng, phàm các việc quân quốc triều đình, sư đều được tham dự. Sư thường đi chơi ở núi Vệ Linh, quận Bình Lỗ, thích nơi đây cảnh trí đẹp, thanh u, muốn dựng am để ở. Ban đêm sư chiêm bao thấy thần nhân mặc áo giáp vàng, tay phải đỡ ngọn bảo tháp, theo sau có hơn chục tên quân hầu dáng mạo hung dữ. Vị thần bảo sư rằng: “Ta là Tì-sa-môn Thiên vương, quân hầu theo ta đây đều là bọn quỷ Dạ xoa. Thiên đế có sắc chỉ sai ta đến nước này giữ cương giới để cho Phật pháp được hưng thịnh. Ta có duyên với người nên đến đây để nhờ cậy”. Sư giật mình tỉnh dậy, nghe trong núi có tiếng gào thét thì lấy làm lạ. Khi trời sáng, sư vào núi thấy một cây cổ thụ cao chừng mười trượng, cành lá xum xuê tươi tốt, phía trên có đám mây lành che bóng. Sư nhân đó thuê thợ đốn cây ấy lấy gỗ tục tượng thần theo đúng như đã thấy trong mộng để thờ phụng,

Năm Thiên Phúc thứ nhất (980), quân Tống sang xâm lược nước ta. Trước đó, vua đã biết chuyện này, bèn sai sư đến đền cầu đảo xin thần phù hộ, Quân giặc kinh sợ lui về giữ sông Hữu Ninh. Đến đây, bọn chúng lại thấy sóng gió nổi lên ùn ùn, giao long nhảy tung trên mặt nước, quân giặc sợ hãi tan chạy" (Bản dịch, 1990)...

Vấn đề đặt ra ở đây là môtip nhân vật "thần nhân mặc áo giáp vùng” có nguồn gốc từ đâu mà lại xuất hiện được trong giấc mơ của Đại sư Khuông Việt? Điều gợi mở trước hết từ trong chính văn bản là vị "thần nhân mặc áo giáp vàng" này đã tự giới thiệu mình chính là Tì-sa-môn Thiên vương, Tóm tắt theo Từ điển Phật học Hán Việt thì Tì-sa-môn Thiên vương (Vaisravana) có nguồn gốc xa xưa từ Ấn giáo, thần thoại và Phật giáo Ấn Độ: “Đạo Bà-la-môn cổ gọi là Thần tài. Vị thần này trụ trì ở phía Bắc núi Tu-di, coi giữ mạn Bắc Diêm-phù-đề, cai quản về của cải tài sản, còn là vị thiện thần hộ trì Phật pháp”; “Còn gọi là Đa-văn-thiên, là một trong 4 vị Thiên vương hộ thế, là vị thiên thần hộ pháp kiêm bố thí phúc trong Phật giáo... Hình tượng có nhiều loại. Tượng của Thai tạng giới Mạn-đồ-la thì mặc áo giáp, đội mũ trụ, tay trái cầm cây tháp, tay phải cầm gậy báu. Thường là tượng ngồi và tương truyền còn có cả tượng đứng” (1994)...

Cho đến nay nhìn lại có thể khẳng định đã có cả một quá trình tìm hiểu về Tì-sa-môn Thiên vương trong bối cảnh văn hóa - văn học dân gian, cụ thể hơn là mối liên hệ với truyện Ông Dóng và hình ảnh giấc mơ của Khuông Việt. Trong công trình Người anh hùng làng Đông, Cao Huy Đỉnh đã lý giải khả năng trầm tích yếu tố folklore (cùng với nhân vật ông Hống ông Hát): “Trong Việt điện u linh (phần tục biên), sau khi nói đến truyện thần núi Vệ Linh là Tì-sa-môn, vì âm phù cho Lê Đại Hành đánh tan giặc Tống, nên được vua này phong cho là Sóc Thiên Vương (Chú ý: có truyền thuyết nói rằng vị thần phù âm đó là anh em ông Hống ông Hát cũng là hai anh em sinh đôi từ trong cùng một bọc đã theo Triệu Quang Phục sau này - xem Thiên Nam vân lục liệt truyện), tác giả kể lại một truyền thuyết dân gian về một em bé anh hùng giống như truyện Ông Dóng, nhưng trong đó không có một tên riêng nào khác ngoài Sóc Sơn và Sóc Thiên Vương. Có lẽ đây là tiền thân của truyện Ông Dóng” (1969)... Đồng thời, khi viết giáo trình văn học sử và tìm hiểu mối quan hệ Tì-sa-môn Thiên vương và Sóc Thiên vương - Thánh Dóng - Phù Đổng Thiên vương, Đinh Gia Khánh đã đi đến kết luận: “Ở đây có chi tiết liên quan đến Sóc Thiên vương, tức Thánh Dóng. Thánh Dóng hiện ra dưới hình thức Tì-sa-môn Thiên vương chỉ huy đạo quân Dạ-thoa. Rõ ràng là Thiền uyển tập anh đã phản ánh việc các thiền sư đem Phật giáo hóa truyền thuyết dân gian” (1978)... Như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, chỉ qua một dẫn chứng tiêu biểu này cũng thấy rõ khả năng tích hợp các yếu tố folklore ở truyện về Đại sư Khuông Việt trong tác phẩm Thiền uyển tập anh là một thực tế, biểu hiện chiều sâu văn hoá dân tộc và có tầm quan trọng đến như thế nào. Qua chiều dài thời gian, các thế hệ nhà nghiên cứu đã nỗ lực góp công kiếm tìm, giải mã câu chuyện “giấc mơ Khuông Việt”, giúp cho vấn đề ngày càng trở nên hấp dẫn và sáng tỏ hơn...

Năm 986, Khuông Việt được cử cùng sư Đỗ Pháp Thuận tiếp đón và bàn luận thi ca với Lý Giác, sứ giả nhà Tống. Khi Lý Giác ra về, Đại sư Khuông Việt có tặng Lý Giác một bài từ theo điệu Nguyễn lang qui (còn gọi Vương lang qui):

Tường quang phong hảo cẩm phàm trương,

Dao vọng thần tiên phục để hương.

Thiên trùng vạn lí thiệp thương lang,

Cửu thiên quy lộ trường.

Tình thảm thiết,

Đối li trường,

Phan luyến sứ tinh lang

Nguyện tương thâm ý vị Nam cương,

Phân minh báo ngã hoàng.

Bùi Duy Tân dịch thơ:

Gió xuân đầm ấm cánh buồm giương,

Xa ngóng thần tiên lại để hương.

Muôn dặm sóng xanh vượt trùng dương,

Trời xa về đường trường!

Tình thảm thiết,

Chén đưa đường,

Vin xe sứ giả vấn vương!

Xin đem thâm ý vì Nam cương,

Tâu rõ cùng thánh hoàng.

Bốn câu mở đầu bài từ thiên về phác họa cảnh sắc thiên nhiên, gợi tả không khí, hoàn cảnh cuộc chia ly. Đó là cuộc tiễn đưa của tác giả với sứ nhà Tống là Lý Giác vừa với tư cách tiễn biệt một nhà ngoại giao của thiên triều, vừa với tư cách chia tay một người bạn thông hiểu lẫn nhau. Không gian nơi đây được gợi tả mang đầy tính biểu tượng, lễ nghi trang trọng với nắng gió tốt lành, cánh buồm gấm, bể xanh, non nước muôn trùng. Đến những câu tiếp theo, tác giả sử dụng lối nói ngoa ngữ, khoa trương - một lối diễn đạt từ trương bóng bảy để nói về tình cảm lưu luyến nhớ thương: Tình thảm thiết – Chén đưa đường... Cho đến câu thơ Phan luyến sứ tinh lang thì đây là lần thứ hai tác giả đưa Lý Giác lên tới đỉnh cao của niềm hãnh diện, tự hào, thỏa mãn, coi Lý Giác như một sứ giả tài ba.

Đặt ý tứ chủ đạo vào đôi câu kết của bài từ, Đại sư Khuông Việt khéo léo thể hiện mọi ý đồ của mình trong có 12 chữ. Thứ nhất, tiếp tục đề cao vai trò cá nhân Lý Giác, tác giả nhấn mạnh sứ giả chính là sợi dây nối nước Nam với triều đình nhà Tống. Điều này vừa làm thỏa mãn tâm lý sứ giả thiên triều nhưng đồng thời lại chính là cái bẫy vô hình giăng chờ Lý Giác. Bởi lẽ, nếu sứ giả muốn xứng đáng với lời tôn xưng cao quí kia thì phải về tâu bày các vấn đề biên cương theo đúng những điều hai bên đã cam kết, thỏa thuận. Còn nếu làm khác đi thì chính Lý Giác đã tự phản lại mình, đã không còn xứng đáng với lời tung hô kia nữa. Rõ ràng Ngô Chân Lưu đã trải thảm đỏ buộc Lý Giác đi trên con đường độc đạo đó. Thứ hai, trước vấn đề ngoại giao đặc biệt hệ trọng, liên quan đến danh dự và vận mệnh đất nước, lập trường nhà chính trị - thiền sư Ngô Chân Lưu vừa tỏ ra mềm dẻo, vừa hết sức kiên quyết. Tác giả vừa có lời Nguyện xin bàn về vấn đề biện cương, vừa đòi hỏi một sự phân minh, không thể mập mờ, gian lận. Thái độ như thế là hết sức rõ ràng, quyết đoán. Điểm cuối cùng, dù mục tiêu ngoại giao đạt mức độ sắc sảo đến thế nào thì nó vẫn cần được “bao bọc” trong hình thức trang nhã, ân tình của một tác phẩm nghệ thuật viết về sự biệt ly. Tất cả những điều đó đã được Ngô Chân Lưu thực hiện thật uyển chuyển, sinh động.

Đánh giá ý nghĩa ngoại giao qua bài từ Vương lang qui của Ngô Chân Lưu nhất thiết cần phải đặt tác phẩm trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ và trong mối giao lưu văn hóa Việt - Tống. Chắc chắn bài từ của Đại sư Khuông Việt đã tác động mạnh mẽ tới tâm lý vị sứ giả nhà Tống, khiến Lý Giác vừa trân trọng vừa cảm phục tài năng người nước Nam. Đồng thời Đại sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu với trọng trách một nhà ngoại giao lịch lãm, học rộng biết nhiều đã góp phần tạo lập mối quan hệ hòa hảo giữa hai nước Việt - Tống, giữ gìn biên cương nước Việt được bình ổn trong suốt những năm cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ XI. Bài từ Vương lang qui của ông xứng đáng là một trong những trang mở đầu cho dòng văn học bang giao đặc sắc của dân tộc.

Cuối đời, sư lấy cớ già yếu xin cáo việc quan về dựng chùa ở quê nhà. Học trò theo đến rất đông, trong số đó có thiền sư Đa Bảo là người có công khuông phò Lý Công Uẩn ở ngôi vua... Một hôm, đệ tử Đa Bảo hỏi: “Thế nào là chung thủy của đạo học?”. Sư đáp: “Thủy chung không vật thảy hư không/ Hiểu được chân hư thể ắt đồng”. Đa Bảo tiếp: “Lấy gì bảo chứng?”. Sư đáp: “Không có chỗ cho người hạ thử”. Đa Bảo thưa: “Hòa thượng nói rõ rồi”. Sư hỏi: “Ngươi hiểu thế nào?”. Đa Bảo bèn hét lên một tiếng.

Ngày 15 tháng 2 năm Thuận Thiên thứ 2 (1011). Trước lúc qui tịch, sư gọi Đa Bảo đến đọc lời kệ rằng:

Mộc trung nguyên hữu hoả,

Nguyên hoả phục hoàn sinh.

Nhược vị mộc vô hoả,

Toàn toại hà do manh?

(Lửa trong cây có sẵn,

Dù tắt lại bùng ngay.

Nếu bảo cây không lửa,

Xát mạnh sao cháy cây?)

Nói kệ xong, sư ngồi kiết già mà qua đời, thọ 79 tuổi...

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • Triển lãm đa giác quan “Giao thời”: Kết nối di sản với công nghệ
    Từ ngày 24/6 đến 31/7/2026, tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam diễn ra triển lãm đa giác quan “Giao thời”. Sự kiện do Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam phối hợp với VietArt, LumiPark và LumiTech tổ chức.
  • Chiếu miễn phí bộ phim tài liệu “Đất tổ quê cha” nhân Ngày Gia đình Việt Nam
    Buổi chiếu phim sẽ chính thức diễn ra vào lúc 15h00, Chủ nhật ngày 28/06/2026 tại Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, số 465 Hoàng Hoa Thám, Ngọc Hà, Hà Nội.
  • Hấp dẫn chuỗi hoạt động tại Lễ hội Sen Hà Nội 2026
    Diễn ra từ ngày 26 đến 28/6 tại nhiều không gian văn hóa quanh hồ Tây, Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026 được tổ chức với nhiều hoạt động đặc sắc nhằm tôn vinh vẻ đẹp của hoa sen trong đời sống văn hóa Việt, quảng bá giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Đồng thời sự kiện giới thiệu những sản phẩm du lịch, văn hóa và sáng tạo gắn với sen tới người dân, du khách trong nước và quốc tế.
  • Ngày văn hóa Việt Nam tại Hà Nội năm 2026: Tôn vinh di sản, khơi nguồn sáng tạo Thủ đô
    “Ngày văn hóa Việt Nam tại Hà Nội” năm 2026 diễn ra từ ngày 21 đến 24/11/2026 tại khu vực hồ Hoàn Kiếm nhằm tôn vinh, quảng bá các giá trị di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội. Lễ khai mạc được tổ chức hoành tráng với quy mô gần 4.000 người tham gia diễu hành hành trình qua 3 chương nghệ thuật đặc sắc. Xuyên suốt bốn ngày hội, công chúng sẽ được hòa mình vào không gian nghệ thuật đa sắc màu tại ba sân khấu phụ và mãn nhãn với màn trình diễn ánh sáng công nghệ 3D mapping tại Tháp Rùa. Bên cạnh đó, hệ thống triển lãm ứng dụng công nghệ thực tế ảo cùng các khu vực ẩm thực, mua sắm...
  • Màu thời gian
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Màu thời gian của tác giả Nguyễn Đình Xuân.
  • Nhà hát Hồ Gươm đón dàn nghệ sĩ quốc tế danh tiếng trong đêm nhạc "Frozen Fire"
    Vào tối ngày 26/6, tại Nhà hát Hồ Gươm sẽ diễn ra chương trình hòa nhạc đặc biệt mang tên "Frozen Fire". Đêm diễn quy tụ những tên tuổi nghệ sĩ quốc tế danh tiếng, nổi bật là nhạc trưởng người Phần Lan Kalle Kuusava cùng nữ nghệ sĩ violin tài năng Sara Dragan đến từ Ba Lan, kết hợp với các nghệ sĩ tài hoa của Dàn nhạc Giao hưởng Hà Nội (Hanoi Philharmonic Orchestra). Đây là cơ hội hiếm có để công chúng yêu nhạc cổ điển Thủ đô trực tiếp thưởng lãm những kiệt tác giao hưởng kinh điển của châu Âu cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ngay trên sân khấu hiện đại bậc nhất Việt Nam.
  • Hà Nội ban hành Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô
    Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô Hà Nội vừa chính thức ban hành Quy chế làm việc, tạo cơ sở để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối và giám sát việc triển khai các chủ trương, nhiệm vụ phát triển văn hóa trên địa bàn Thành phố; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng và phát triển văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Xã Hồng Vân phổ biến Luật Thủ đô năm 2026 tới cán bộ, Nhân dân
    Nhằm lan tỏa các nội dung của Luật Thủ đô năm 2026, UBND xã Hồng Vân (TP Hà Nội) đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến, tập huấn và bồi dưỡng Luật Thủ đô năm 2026 và các văn bản hướng dẫn thi hành tới các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động các cơ quan, đơn vị, đại diện các thôn, tổ dân phố trên địa bàn xã.
  • Nhìn lại một thời của Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn
    Ngày 20/6, tại Hà Nội đã diễn ra tọa đàm nghệ thuật “Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn trước năm 1975: Một thời nhớ lại” do A&V Foundation tổ chức. Thông qua những chia sẻ của họa sĩ Trịnh Cung cùng phần trao đổi với nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng và các khách mời, tọa đàm đã góp phần nhận diện rõ hơn quá trình hình thành, phát triển của Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn cũng như những giá trị nghệ thuật mà thế hệ họa sĩ này để lại cho mỹ thuật Việt Nam.
  • Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt
    Chiều 20/6/2026, NXB Kim Đồng phối hợp cùng Học viện đào tạo Truyện tranh Comicola Academy và Cộng đồng họa sĩ truyện tranh Việt Nam PunkgaMe tổ chức tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt” và workshop “Quy trình chuyển thể tác phẩm văn học sang truyện tranh”. Tham dự sự kiện có đông đảo biên tập viên, họa sĩ chuyên nghiệp, các bạn trẻ đam mê sáng tác truyện tranh và độc giả yêu thích truyện tranh.
Khuông Việt Ngô Chân Lưu – đại sư không phò nước Việt
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO