Văn hóa – Di sản

Lương Văn Can – lá cờ đầu phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục

Nguyễn Thanh Tùng 19/11/2023 17:01

Lương Văn Can (1854 - 1927), tên chữ là Hiếu Liêm và Ôn Như, tên hiệu là Sơn Lão, quê ở làng Nhị Khê, xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông (nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội).

luong-van-can.jpg
Danh nhân Lương Văn Can.

Lương Văn Can sinh ra trong một gia đình nghèo nhưng có truyền thống hiếu học và yêu nước. Thuở nhỏ, để mưu sinh và theo đuổi con đường học hành, Lương Văn Can từng làm nghề thợ sơn. Năm 1871, ông đỗ Tam trường kì thi Hương. Năm 1874, ông đỗ Cử nhân, chuẩn bị vào Huế tham dự kì thi Hội thì thân phụ mất, ông đành ở nhà chịu tang, bỏ dở sự nghiệp khoa cử. Người đương thời thường gọi ông là “cụ cử Can”. Hết tang, triều Nguyễn bổ ông làm Giáo thụ phủ Hoài Đức (Hà Nội), nhưng ông không nhận. Sau đó, thực dân Pháp lại đề cử ông vào chức ủy viên Hội đồng Thành phố Hà Nội, ông cũng kiên quyết khước từ, ở nhà dạy học. Năm 1879, Lương Văn Can mở trường dạy học tại số 4 phố Hàng Đào, Hà Nội. Tháng 3 năm 1907, ông cùng một số nhà Nho yêu nước thành lập Đông Kinh nghĩa thục và giữ chức Thục trưởng (tức Hiệu trưởng), tham gia Ban tu thư và trực tiếp giảng dạy. Tháng 11 năm 1907, Đông Kinh nghĩa thục bị đóng cửa, cấm hoạt động, Lương Văn Can phải từ chức. Năm 1908, nhân vụ lính Pháp bị đầu độc ở Hà Nội, Lương Văn Can và một số đồng chí bị bắt giam. Tuy nhiên, do không khai thác được gì, thực dân Pháp đành phải thả tự do cho ông. Năm 1913, xảy ra vụ đánh bom ở khách sạn Hà Nội, thực dân Pháp nghi Lương Văn Can có liên quan nên bắt lại và kết án biệt xứ, đày đi “an trí” ở Phnômpênh (Campuchia). Trong thời gian ở Phnômpênh, ông cùng con gái, con dâu lập nhiều cửa hiệu, phối hợp với vợ ở Hà Nội và một số thương nhân ở Sài Gòn, thiết lập đường dây buôn bán xuyên quốc gia Việt Nam - Campuchia. Có thể nói, đó là những “công ty xuất nhập khẩu” đầu tiên của thương nhân Việt Nam. Năm 1921, Lương Văn Can được tha về Hà Nội. Về lại Hà Nội, ông tiếp tục mở trường Ôn Như, vừa dạy học vừa chuyên tâm soạn sách cổ vũ “tân học”. Ngày 13 tháng 6 năm 1927, ông mất tại Hà Nội. Trước khi qua đời, Lương Văn Can còn thống thiết dặn lại hậu thế trong di chúc: “Hết thảy đồng bào xin nhớ lấy sáu chữ, ai ai cũng có một lòng ấy, đời đời cũng giữ một sự ấy... Đại Việt ta có thể mở mặt ở trên địa cầu được chăng. Sáu chữ là gì? Là: “Bảo quốc hồn, tuyết quốc sỉ” (Giữ tinh hoa của nước, rửa nhục nước). Sáu chữ ấy thật là một cái hộ phù cứu nước rất linh, rất mạnh, không gì hơn nữa”...

Ngay từ thời trẻ, Lương Văn Can đã tỏ ra là một người có khí phách và giàu lòng yêu nước. Tương truyền, ông có một người thầy cũ tham gia phong trào yêu nước chống Pháp, bị chém bêu đầu ở phủ Hoài Đức. Môn đồ của người này không ai dám xin thi hài về chôn cất vì sợ liên lụy. Riêng Lương Văn Can đã khảng khái dâng sớ xin. Triều đình nhà Nguyễn đã chấp nhận lời thỉnh cầu và ban khen ông là người có nghĩa khí. Khí phách và lòng yêu nước của Lương Văn Can được thể hiện rõ nhất qua phong trào Đông Kinh nghĩa thục mà ông chính là một yếu nhân tham gia sáng lập, điều hành và trực tiếp giảng dạy.

Là một trí thức, một công dân, đứng trước hoàn cảnh đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị thực dân đô hộ, Lương Văn Can đã lựa chọn cho mình con đường đấu tranh chủ yếu bằng tri thức, giáo dục và tinh thần “tự cường dân tộc”. Tiếp nối đường hướng của các trí thức Nho học cuối thế kỉ XIX như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ,... Lương Văn Can chủ trương tự cường dân tộc, canh tân đất nước. Ông đã để tâm nghiên cứu, học hỏi trước tác của các nhà tư tưởng tiến bộ trên thế giới như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (Trung Quốc), Voltaire, Montesquieu (Pháp), Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi) (Nhật Bản), v.v... nhằm thực hiện ý tưởng đó. Tiếp thu bài học về sự thành công của cuộc cải cách Minh Trị (Mei-ji) ở Nhật Bản, ông cùng bạn bè, đồng chí dần dần hình thành ý tưởng thành lập một trường học kiểu mới, mô phỏng trường Khánh Ưng nghĩa thục (Keio Gijuku) của Phúc Trạch Dụ Cát lập ở Nhật Bản, mong muốn làm cuộc cách mạng về xã hội - văn hóa, củng cố niềm tự hào dân tộc, nâng cao dân trí cho người dân và cổ vũ lòng yêu nước, tinh thần chống Pháp của họ. Trường Đông Kinh nghĩa thục ra đời với mục đích đó. Trường không thu tiền của người học mà dựa vào sự đóng góp tự nguyện của các hội viên, học sinh và những người hảo tâm. Ban đầu trường được đặt ngay tại nhà của Lương Văn Can, nhưng sau đó, do quy mô trường ngày càng lớn nên phải mở rộng thêm sang số 10 phố Hàng Đào, sau đó mở ra các làng xã ở Hà Nội với 4 cơ sở, gồm: Canh, Tây Mỗ (huyện Hoài Đức), Chèm (quận Bắc Từ Liêm), Tân Hội (huyện Đan Phượng). Thành viên chính của phong trào gồm Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ, Phan Tuấn Phong, Đặng Kinh Luân, Dương Bá Trạc, Lê Đại, Vũ Hoành, Phan Đình Đối, Hoàng Tăng Bí,... Mục đích của phong trào Đông Kinh nghĩa thục là bài trừ tư tưởng Nho giáo, du nhập những tư tưởng mới, phát triển văn hoá, thúc đẩy sử dụng chữ Quốc ngữ thông qua các hoạt động giáo dục, báo chí, tuyên truyền, cổ động; chấn hưng thực nghiệp, mở tiệm buôn, phát triển công thương,.... Để thực hành tư tưởng đó, đồng thời cung cấp tài chính cho nghĩa thục và ủng hộ phong trào Đông du, một số thành viên của nghĩa thục đã mở các hiệu buôn ở Hà Nội như Đồng Lợi Tế, Tụy Phương, Hồng Tân Hưng, Công ty Đông Thành Xương... Bản thân gia đình Lương Văn Can cũng có mấy hiệu buôn riêng, đóng góp một phần tài chính không nhỏ cho nghĩa thục. Cũng từ đây, tư tưởng coi trọng thương nghiệp của Lương Văn Can nảy nở. Trong sách Thương học phương châm (1928), ông từng chỉ ra thực trạng đất nước, đặc biệt phân tích sâu sắc sự yếu kém của thương nghiệp và thương giới Việt bao gồm 10 điểm sau: Người mình không có thương phẩm; Hai rằng không có thương hội; Ba là không có tin thực; Bốn rằng không có kiên tâm; Năm rằng không có nghị lực; Sáu là không biết trọng nghề; Bảy là không có thương học; Tám rằng kém đường giao thiệp; Chín rằng không biết tiết kiệm; Mười rằng khinh nội hóa... Đó cũng là động lực thôi thúc ông sau này bỏ công soạn các sách chuyên về thương nghiệp rất có giá trị. Tiếng tăm của phong trào Đông Kinh nghĩa thục nhanh chóng lan ra nhiều tỉnh lân cận như Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, v.v... Ở các tỉnh này, các nghĩa thục, các hội ái hữu, tương tế cũng được thành lập theo phương châm, chương trình hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục. Nhiều nơi, phong trào còn biến thành các cuộc đấu tranh trực diện với bọn thực dân và bè lũ tay sai. Mặc dù tồn tại không lâu, nhưng phong trào Đông Kinh nghĩa thục đã có tác động mạnh mẽ, dài lâu đến quốc dân, đồng bào, thổi luồng sinh khí mới vào đời sống xã hội đang trì trệ lúc bấy giờ, thức tỉnh tinh thần yêu nước, kích thích tinh thần đổi mới, “tự cường dân tộc”, chấn hưng đất nước. Đóng góp vào thành công chung đó có vai trò rất lớn của Lương Văn Can. Ông và gia đình đã bỏ ra nhiều tài lực, tâm lực, trí lực cho hoạt động chung, trở thành ngọn đuốc sáng, lá cờ đầu của phong trào Đông Kinh nghĩa thục đầu thế kỉ XX.

Gia đình Lương Văn Can cũng là một gia đình giàu tinh thần yêu nước, cách mạng. Bà Lê Thị Lễ là người vợ thủy chung, tháo vát, cũng chính là người đồng chí, đồng lòng trong suốt sự nghiệp vì nước, vì dân của ông. Bà đã hết lòng ủng hộ ông trong việc thành lập, phát triển Đông Kinh nghĩa thục, kể cả việc bán của hồi môn, sản nghiệp gia đình. Khi người con trai là Lương Ngọc Quyến bị bắt vì cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên thất bại, lúc đó chồng đang bị lưu đày, bà đã kiên cường vượt qua bao nỗi đau đớn để đứng vững và tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho chồng, cho con. Trước tòa đại hình của thực dân, bà đã từng vặn hỏi bọn quan tòa: “Con tôi theo đuổi mục đích cứu nước là hợp đạo lý của gia đình và của đất nước chúng tôi, sao lại gọi là phản loạn?”. Rồi bà động viên người con trai anh dũng: “Mẹ chỉ mong con xứng đáng là con dân của nước Việt đến hơi thở cuối cùng”. Khi bà mất, Dương Bá Trạc có đôi câu đối viếng như sau:

- Tân khổ vị tông bang, tư tử vọng phu, song nhiệt lệ

(Xót đau vì giống nòi đất nước, thương con ngóng chồng, đôi hàng lệ nóng)

- Ái ưu hữu hiền trợ, thành nhân thủ nghĩa, nhất đan tâm

(Trọn lẽ lo toan bán buôn tài đảm, nên người giữ nghĩa, một lòng son)

Người con trai cả Lương Trúc Đàm (còn có tên là Lương Ngọc Liêu) cũng là một thành viên của Đông Kinh nghĩa thục, tham gia Ban Tu thư và Ban Giáo dục. Những bài giảng của Lương Trúc Đàm được tập hợp thành cuốn Nam quốc địa dư (Địa lí nước Nam). Người con trai thứ Lương Ngọc Quyến là một thành viên của phong trào Đông du, sau tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên cùng Đội Cấn (1917), đã hi sinh anh dũng khi cuộc khởi nghĩa bất thành. Vợ Lương Ngọc Quyến là Nguyễn Thị Hồng Đính cũng là một người xả thân vì nghĩa, từng sát cánh bên chồng, bên cha chồng trong hoạt động cứu nước. Người con trai thứ Lương Nhị Khanh là thành viên của phong trào Đông du, sau cũng bị bắt, đày sang Campuchia. Con trai thứ Lương Ngọc Bân là trợ thủ đắc lực cho cha khi Đông Kinh nghĩa thục bị đàn áp, nên năm 1913, ông bị thực dân Pháp xử 5 năm tù treo, phải vào Thanh Hóa dạy học. Vợ Lương Ngọc Bân là Nguyễn Thị Vân Thiềm cũng là trợ thủ đắc lực của chồng. Con gái Lương Thị Tín cũng tham gia giảng dạy ở Đông Kinh nghĩa thục và các phong trào khác. Con gái Lương Thị Trí, con trai thứ Lương Ngọc Môn cũng tích cực cùng cha vận động cho các phong trào cách mạng yêu nước đầu thế kỉ XX. Một người con rể của ông là Nguyễn Phương Sơn cũng vì tham gia hoạt động cách mạng mà bị lưu đày... Có thể nói, gia đình Lương Văn Can là một gia đình yêu nước tiêu biểu đương thời.

Sinh thời, để phục vụ cho lí tưởng của mình, Lương Văn Can đã biên soạn và tham gia biên soạn khá nhiều công trình có giá trị như Quốc sự phạm lịch sử (Lịch sử quốc sự phạm), Ấu học tùng đàm (Bàn góp về việc học của trẻ thơ), Hán tự tiệp kính (Con đường tắt đến chữ Hán), Gia huấn (Lời dạy trong gia đình), Hạnh đàn loại ngữ (trích dịch sách Luận ngữ), Trâu thư loại ngữ (trích dịch sách Mạnh Tử), Luận ngữ cách ngôn diễn giải (Diễn giải về những lời giáo huấn trong Luận ngữ), Lương gia tộc phả (Gia phả họ Lương, ghi chép hành trạng từ thân phụ đến bản thân và các con), Kim cổ cách ngôn (Lời dạy xưa nay), Thương học châm ngôn (Châm ngôn về ngành thương nghiệp)... Ông còn tham gia biên soạn cuốn Đại Việt địa dư (1925) diễn ca thơ lục bát về 39 tỉnh Bắc Kì, Trung Kì và 6 tỉnh Nam Kì, Hán tự quốc âm (Dùng quốc ngữ ghi chữ Hán)... Các sách Luận ngữ cách ngôn diễn giải, Hạnh đàn loại ngữ, Trâu thư loại ngữ là những cuốn sách giáo khoa đơn giản, soạn ra với mục đích giúp cho các thế hệ thanh niên mới nắm bắt, kế tục được tư tưởng cơ bản của Nho giáo, từ đó ứng dụng vào thực tế đời sống với tinh thần mới. Các sách Hán tự tiệp kính, Hán tự quốc âm giúp cho người học chữ Hán được nhanh chóng, tiện lợi, góp phần bảo tồn cổ học. Cuốn Quốc sự phạm lịch sử, Ấu học tùng đàm là những sách giáo khoa nhập môn cho người mới học. Cuốn Đại Việt địa dư là cuốn diễn ca về địa lí nước Việt. Mục đích của nó là giúp cho người học nắm được khái quát địa dư nước nhà, đồng thời nắm rõ lịch sử dân tộc từ đó hình thành niềm tự hào dân tộc và chủ nghĩa yêu nước. Ông đã nói rõ điều đó khi viết: Dân ta ở khắp các nơi/ Ngồi nhìn cố thổ, cảm hoài xiết bao/ Người không nghĩ trước nghĩ sau/ Tịch Đàm quên tổ nghìn thâu để cười... Các sách Gia huấn, Gia phả lại có ý nghĩa giáo dục luân lí, đạo đức, truyền thống rất sâu sắc. Các sách Kim cổ cách ngôn, Thương cổ châm ngôn... bàn về thương nghiệp lại là những tri thức, bài học về nghề có ích cho giới thương nhân và cho công cuộc chấn hưng kinh tế của đất nước thời bấy giờ. Nhiều tri thức được trình bày trong các sách này cho đến nay vẫn còn giá trị thời sự. Chẳng hạn, bàn về đạo đức kinh doanh, Lương Văn Can viết: “Bí quyết thành công đối với nhà kinh doanh là ở sự trung thực. Nghĩa là nguồn lợi thu về phải theo lẽ tự nhiên, đừng bao giờ vì lợi mà làm điều xằng bậy. Giả dụ như người tích luỹ gạo, vải mà lại mong mất mùa lúa, mùa bông thì đó là cái tâm địa độc ác. Lại có người kinh doanh chuyên làm hàng giả để đánh tráo hàng thật, cũng bởi lòng tham không cùng mà thôi. Lòng ngay thẳng, khoan hậu với người, đấy cũng là phép kinh doanh vậy!” (Kim cổ cách ngôn), v.v...

Lương Văn Can không có ý định lập thân bằng văn chương, mặc dù không phải không có tài. Ông để lại không nhiều sáng tác thơ ca. Nhưng tất cả các tác phẩm thơ ca của ông đều thể hiện hai nội dung chủ yếu: tinh thần yêu nước và tư tưởng duy tân. Thơ ông viết là để “khuyến khích tấm lòng trung nghĩa”: Áo cơm lộc nước đã bao lâu/ Một tấm lòng trung trả nghĩa sâu/ Mưa gió giữ gìn bền chí mãi/ Non sông gánh vác ghé vai vào Rửa hờn gia quốc theo Lê tướng/ Xong nợ công danh học Phạm hầu/ Sự nghiệp quân dân là bổn phận/ Thân này quan trọng dám quên đâu (Khuyến trung). “Trung” ở đây là trung với “non sông đất nước” chứ không phải tinh thần “trung quân” thủ cựu. Trở về nước sau 9 năm lưu đày, ông xúc động làm bài thơ Cảm tác khẳng định chí hướng trước sau như một của mình: Chín năm xa nước và xa nhà/ Lần lữa ngày qua tháng lại qua/ Buôn tính hơn thua toan mặc trẻ/ Sách vui soạn thuật tự quên già Đồng tâm thêm rộng tri giao nữa/ Quá nhãn càng nhiều kiến thức ra/ Tổ quốc trở về lòng luống những/ Ta nay nào đã khác xưa ta... Vịnh một đồng chí cách mạng, ông hết lời ca ngợi tấm lòng kiên trinh, yêu nước của người này:

Duy tân sự nghiệp vĩnh lưu phương,

Tùng Thoại anh thư xuất dị thường.

Quốc sỉ gia cừu tư tuyết,

Thiên nhai hải giác diệc trùng dương.

Liễu bồ nhược chất khinh phong lãng,

Tùng bá kiên trinh ngạo tuyết sương,

Thành bại anh hùng nan định luận,

Bách niên tâm sự tự chiêu dương.

(Vịnh Tùng Thoại)

Bản dịch thơ:

Vẻ vang sự nghiệp Duy tân,

Cô tư Tùng Thoại vĩ nhân khác thường.

Thù nhà nợ nước cưu mang,

Ven trời góc bể hiên ngang đi về.

Phận bồ sóng gió chẳng ghê,

Bá tùng tiết cả chi nề tuyết sương.

Anh hùng thành bại chuyện thường,

Một bầu tâm huyết tấm gương muôn đời.

Bài thơ viết về Tùng Thoại - một nữ chiến sĩ cách mạng kiên trinh đầu thế kỉ XX - nhưng cũng có thể coi là bài tổng kết cho cuộc đời và sự nghiệp của Lương Văn Can - một người anh hùng thực sự. Đúng là “chuyện anh hùng thành hay bại khó mà bàn bạc dứt khoát” nhưng tâm sự trăm năm thì “sáng như mặt trời”.../.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Khánh Dư – danh tướng thủy binh
    Trần Khánh Dư người huyện Chí Linh (Hải Dương), chưa rõ năm sinh, mất năm 1339, dòng dõi tôn thất nên được phong tước Nhân Huệ vương. Khi quân Nguyên mới sang xâm lược nước ta, ông thường nhằm chỗ sơ hở đánh úp, Trần Thánh Tông khen là có chí lược, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Khi đánh dẹp ở miền núi thắng lớn, được phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi từ tước hầu, do được vua yêu, thăng mãi lên Thượng vị hầu áo tía, giữ chức phán thủ. Sau vì tư thông với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, phải lui về ở Chí Linh làm nghề bán than.
(0) Bình luận
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
  • Bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng - TP Hà Nội: Hương vị mộc mạc lưu giữ ký ức Hà thành
    Giữa sự thay đổi không ngừng của văn hoá ẩm thực Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì vẫn giữ được dấu ấn riêng bằng hương vị giản dị và kỹ thuật chế biến thủ công đặc trưng. Từ những gánh hàng rong xưa đến những cơ sở sản xuất ngày nay, món ăn làm từ hạt gạo quê này không chỉ phản ánh nét tinh tế trong văn hóa ẩm thực Thủ đô mà còn lưu giữ câu chuyện về một nghề truyền thống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
  • Làng Vạn Phúc giữ gìn cốt cách văn hóa trong dòng chảy hiện đại
    Bước chân vào làng Vạn Phúc, người ta dễ dàng cảm nhận sự giao thoa giữa quá khứ và hiện tại. Những mái đình, ngôi chùa cổ kính, những câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác và nhịp sống bình dị của người dân đã tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng, nơi ký ức của vùng quê Bắc Bộ vẫn được nâng niu, gìn giữ qua năm tháng.
  • Tôn vinh di sản, lan tỏa thương hiệu “Huế - Kinh đô Áo dài”
    Tuần lễ Áo dài Huế 2026 với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch đặc sắc trải dài trên nhiều không gian di sản, danh thắng và địa điểm văn hóa tiêu biểu của TP Huế sẽ diễn ra từ ngày 3 - 10/7.
  • Công bố xếp hạng đình Liễu Cốc Thượng là Di tích cấp TP Huế
    Bảo tồn nhiều tư liệu, sắc phong cùng các giá trị văn hóa gắn với đời sống tâm linh, phong tục tập quán của người dân đã trải qua hơn 500 năm nên đình Liễu Cốc Thượng được xếp hạng Di tích cấp TP Huế.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Động lực đột phá mở ra giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội
    Nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị công bố quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và xúc tiến đầu tư năm 2026 diễn ra sáng 29/6, Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng khẳng định: “Động lực đột phá từ thể chế, không gian mới từ quy hoạch sẽ là bệ phóng hiện thực hóa khát vọng xây dựng Thủ đô trở thành nơi hội tụ tri thức và công nghệ. Người dân được sống trong môi trường văn minh, an toàn và hạnh phúc”.
  • Dưới gốc cây thanh trà
    Tháng sáu về mang nắng gió rải đều trên khắp con đường, ngõ xóm, tôi mon men chân trần đi trên đám cỏ non dẫn vào khu vườn kí ức, ở đó, đám cây thanh trà đang rộ, quả vàng chín mọng, căng mình dưới lớp lá xanh đậm. Mùa này là mùa của những dư vị thanh thanh nơi đầu lưỡi, tôi có thể thả mình vào nơi mát mẻ của khu vườn, nghe tiếng ve thao thiết gọi hè. Những quả thanh trà được tưới đẫm nước, lấp lánh vàng, căng mọng, chỉ chờ tay người hái.
  • Tiểu thuyết “Phi công” - kiệt tác văn học đương đại Nga ra mắt độc giả Việt
    Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam vừa giới thiệu tới bạn đọc tiểu thuyết “Phi công” của nhà văn Nga đương đại Evgeny Vodolazkin, do dịch giả Phan Xuân Loan chuyển ngữ. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết Nga nổi bật nhất của thập niên 2010.
  • Tây Hồ tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người có công: Lan tỏa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”
    Sáng 29/6, tại Trạm Y tế phường Tây Hồ, UBND phường Tây Hồ tổ chức chương trình khám sức khỏe định kỳ cho người có công và các đối tượng chính sách trên địa bàn nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026). Đây là hoạt động thiết thực, thể hiện sự tri ân sâu sắc của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân địa phương đối với những người đã cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
  • "Âm nhạc cộng đồng" lan tỏa hình ảnh Hà Nội văn hiến, sáng tạo và giàu bản sắc
    Mỗi ca khúc là một miền ký ức, mỗi nhạc cụ dân tộc là một thanh âm của quê hương. Những tác phẩm quen thuộc đã tạo nên một dòng chảy âm nhạc xuyên suốt trong chương trình "Âm nhạc cộng đồng" diễn ra tại Nhà Bát Giác tối 28/6. Chương trình đưa công chúng đi qua nhiều sắc màu văn hóa Việt Nam trước khi trở về với Hà Nội – Thủ đô ngàn năm văn hiến, nơi những giá trị văn hóa được hội tụ, gìn giữ và tiếp tục lan tỏa trong đời sống hôm nay.
Đừng bỏ lỡ
  • Truyện tranh “Thần Giấy Hlabar”: Đưa lịch sử chữ viết Bahnar đến với thiếu nhi
    Hơn ba năm sau “Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ”, bộ đôi tác giả Phạm Thị Kiều Ly - Tạ Huy Long tiếp tục giới thiệu truyện tranh “Thần Giấy Hlabar - Sử thi nhỏ về chữ viết Bahnar”. Tác phẩm được chuyển thể từ một công trình nghiên cứu về lịch sử chữ viết Bahnar, qua đó góp phần đưa đề tài ngôn ngữ học đến gần độc giả nhỏ tuổi.
  • Vở kịch "Ngược chiều bình an" và hành trình nghệ thuật nối dài mạch nguồn tri ân
    Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ, trong tháng 7 và tháng 8, Nhà hát Kịch Việt Nam sẽ tổ chức chuyến lưu diễn xuyên Việt với vở kịch “Ngược chiều bình an” — một tác phẩm sân khấu mang đậm ý nghĩa tri ân, tưởng nhớ và tôn vinh những con người đã hy sinh vì dân, vì nước.
  • Tái hiện thiên tình sử bất hủ giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Công chúa Thiên Thành
    Vở cải lương “Tình sử Đông A” tái hiện thiên tình sử bất hủ giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Công chúa Thiên Thành, đưa khán giả trở về với một giai đoạn lịch sử rực rỡ, nơi tình yêu, lòng trung nghĩa và khí phách dân tộc cùng tỏa sáng. Đêm diễn sẽ chính thức được mở màn vào lúc 20h00 ngày 27 tháng 6 năm 2026 tại Rạp Chuông Vàng, số 72 Hàng Bạc, Hà Nội.
  • Hà Nội tăng cường phát triển xuất bản trong tình hình mới, lan tỏa văn hóa đọc và sức mạnh mềm văn hóa Thủ đô
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Hướng dẫn số 38-HD/BTGDVTU ngày 22/6/2026 về quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Hướng dẫn xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm phát triển xuất bản theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gắn với phát triển văn hóa đọc, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số trên địa bàn Thủ đô.
  • "Trải nghiệm văn hóa dân gian truyền thống" tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Từ ngày 1 đến 31/7/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra chuỗi hoạt động tháng 7 với chủ đề "Trải nghiệm văn hóa dân gian truyền thống", mang đến nhiều chương trình trải nghiệm, giao lưu và thực hành di sản dành cho công chúng, đặc biệt là thanh thiếu niên trong dịp hè.
  • Khai mạc Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026
    Tối 26/6, tại Hà Nội, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với Hãng phim Quốc gia Belarus (Belarusfilm) và Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus tổ chức lễ khai mạc Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026.
  • Khai mạc Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026: Tôn vinh giá trị của sen trong đời sống người Việt
    Tối 26/6, tại Vườn hoa Lý Tự Trọng, Sở Du lịch Hà Nội phối hợp với UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Sắc Sen Hà Nội”. Đây là sự kiện văn hóa - du lịch quy mô lớn nhằm tôn vinh giá trị của sen trong đời sống người Việt, đồng thời góp phần xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa đặc trưng của Thủ đô gắn với hình ảnh hoa sen.
  • Tầm nhìn thế kỷ để Thủ đô Hà Nội bứt tốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
    Trong suốt tiến trình lịch sử phát triển đô thị của Việt Nam, chưa có một văn kiện nào thể hiện chiều sâu không gian và chiều dài thời gian vĩ mô như Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính chị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 đánh dấu một bước ngoặt tư duy mang tính cách mạng, thay thế các góc nhìn ngắn hạn bằng một hệ kiến trúc chính sách mang tầm thế kỷ cho Hà Nội.
  • Thêm một không gian vui chơi cho trẻ tại Phố Sách Hà Nội
    Sáng 26/6, tại Phố Sách Hà Nội (phố 19 háng 12, phường Cửa Nam), UBND phường Cửa Nam phối hợp với Tập đoàn Picenza Việt Nam, doanh nghiệp xã hội Think Playgrounds và Ban Quản lý Phố Sách Hà Nội tổ chức ra mắt Khu vui chơi - Chòi chơi Phố sách, hưởng ứng kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026).
  • Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026
    Từ ngày 26 đến 28/6/2026, tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Hà Nội), Cục Điện ảnh phối hợp với Hãng phim Quốc gia Belarus (Belarusfilm) và Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus tổ chức “Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026”.
Lương Văn Can – lá cờ đầu phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO