Văn hóa – Di sản

Nguyễn Thượng Hiền – nhà chí sĩ, nhà thơ

Hà Thanh Vân 16/11/2023 15:04

Nguyễn Thượng Hiền tự Đỉnh Nam, hiệu Mai Sơn, Long Sơn, Thiếu Mai Sơn Nhân, Giao Chỉ Khách, Bão Nhiệt, Đỉnh Thần, tục gọi ông Đốc Nam (vì từng làm Đốc học Nam Định). Sinh năm 1868 trong một gia đình Nho học tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội). Ông là con rể quan Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết. Thân phụ của ông là Nguyễn Thượng Phiên, đậu Hoàng giáp khoa Nhã sĩ niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865), giữ chức Tham tri Bộ công, rồi Thượng thư Bộ Công niên hiệu Thành Thái (1889).

nguyen-thuong-hien.jpg
Danh nhân Nguyễn Thượng Hiền.

Thuở nhỏ, Nguyễn Thượng Hiền đã bộc lộ tư chất thông minh, hiếu học. Tuy nhiên, do thời vận thay đổi, con đường khoa danh của ông lại gặp nhiều khó khăn, trở ngại.

Nguyễn Thượng Hiền đỗ Cử nhân năm Giáp Thân (1884), sau một thời gian đợi chờ, trèo đèo vượt suối đến trường thi Thanh Hóa. Năm Ất Dậu (1885), ông thi Hội đáng lẽ đỗ đầu, nhưng chưa kịp xướng danh thì kinh đô Huế thất thủ. Năm 1892, ông ra thi Đình, đỗ Hoàng giáp, song do lúc bấy giờ đất nước rơi vào tay giặc Pháp, lại chưa thỏa mãn đậu nhị giáp tiến sĩ nên Nguyễn Thượng Hiền lui về ở ẩn tại núi Nưa (Nga Sơn, Thanh Hoá), không chịu ra làm quan. Ít lâu sau, triều đình thúc ép ông ra nhận chức, hậu bổ làm Toản tu Quốc sử quán, biên soạn quốc sử về triều Nguyễn, rồi thăng Đốc học ở Ninh Bình (1901), Hà Nam (1905), Nam Định (1906). Nhận chức quan nhỏ, “quan bất phiền, dân bất nhiễu”, Nguyễn Thượng Hiền có thì giờ giao thiệp với nhiều nhân sĩ kinh kỳ bấy giờ như Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Nguyên Cẩn, Hoàng Mậu, Trà Quý, Nguyễn Tùng Hiên, một phần vì duyên nợ văn chương, một phần do giữa họ có chung chí hướng, quan niệm trước thời cuộc dâu bể.

Trong thời gian làm việc ở Huế, Nguyễn Thượng Hiền có sự chuyển biến rõ rệt về quan niệm đấu tranh xã hội. Ông đọc nhiều tân thư Trung Quốc, hào hứng tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, đánh giá cao các bài văn có tinh thần cách mạng, có hiểu biết rộng về thời cuộc ở châu Âu và trên thế giới, tiếp xúc, liên lạc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Tăng Bạt Hổ, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế... lo việc cứu nước; chung sức đẩy mạmh phong trào Duy tân, cổ động, giúp đỡ thanh niên xuất dương du học. Ngoài ra ông còn lập hội cứu tế ở Huế và Hà Đông. Năm Đinh Mùi (1907), vua Thành Thái bị Pháp phế truất, Nguyễn Thượng Phiên qua đời. Lấy cớ thọ tang cha, ông đã xin tạm nghỉ việc quan, gấp rút sửa soạn xuất dương tìm đường cứu nước. Cuốn Ký ức lục của Dương Bá Trạc có đoạn chép: “Năm Đinh Mùi, thân sinh ông (Nguyễn Thượng Hiền) mất, ông lập tức lấy cớ định ưu cáo về. Tang sự xong, ông liền ra Hà Nội mưu với tôi việc khứ quốc. Ông có chí ấy đã lâu, chỉ dùng dằng đợi cho tròn đạo hiếu với cha mới thực hiện ý định được. Bấy giờ chúng tôi đóng cửa một hiệu thuốc gọi là Nam Thọ, đón ông ở tạm đấy, làm thầy thuốc để lo sắp đặt rồi đi; đúng ngày tốt khốc cụ thân sinh ông về nhà làm lễ xong là thất tích biệt. Tôi đưa ông ra tới Đông Hưng thế là ông bỏ hết vợ con nhà cửa, cơ đồ phú quý mà dấn thân vào con đường cách mạng”... Để che mắt Pháp, Nguyễn Thượng Hiền đã cải trang Hoa thương, bí mật qua đường duyên hải sang Trung Quốc gặp gỡ những nhà cách mạng Việt Nam nhờ họ giúp thế lực. Ở Trung Quốc, Nguyễn Thượng Hiền gặp Lưu Vĩnh Phúc, Tán Thuật... cùng bàn bạc việc nước. Ngoài ra ông còn giúp đỡ được nhiều học sinh Việt Nam bị chính phủ Nhật Bản trục xuất hoặc được tham gia học ở Bắc Kinh, hoặc được cấp học bổng, bổ dụng và cấp giấy tờ để có thể tham gia hoạt động chính trị. Ở Trung Quốc, Nguyễn Thượng Hiền gặp gỡ, sau đó cùng Phan Bội Châu sang Nhật hưởng ứng phong trào Đông Du. Ở Nhật, ông theo chủ trương bạo động của Phan Bội Châu, hoạt động trong Hội Công hiến. Năm 1912, Duy Tân hội cải tổ lại, Việt Nam Quang phục hội được thành lập, Nguyễn Thượng Hiền được bầu làm ủy viên Bộ Bình nghị đại biểu cho Bắc Kỳ. Quyển Phan Bội Châu niên biểu ghi lại sự kiện này như sau: “Tháng 5 năm Mậu Thân (1908), tôi từ Xiêm về, gặp ông ở Quảng Đông, mời ông sang chơi Nhật Bản. Trước hết, tôi gửi điện cho Đồng Văn thư viện dặn đến thượng tuần tháng 9, toàn thể học sinh cử đại biểu đến Hoành Tân đón tiếp để về Đông Kinh mở đại hội hoan nghênh. Nguyễn Thượng Hiền có đọc diễn văn khai hội và làm một bài trường thiên khuyên học sinh, có câu rằng: Cơm vào thịt giặc mới no/ Canh nêm mẫu giặc mới ngon... Ông lại làm Viễn hải quy Hồng (Chim hồng ở bể xa bay về), đều đưa in gửi về nước". Các sáng tác của Nguyễn Thượng Hiền gửi về nước đều được giới trí thức hoan nghênh, đón nhận, tin tưởng, vận động, lôi cuốn được nhiều thanh niên ưu tú đi theo cách mạng ở khắp các tỉnh thuộc cả ba kỳ. Năm 1913, Phan Bội Châu bị quân phiệt Trung Quốc bắt giam, Nguyễn Thượng Hiền được giao đảm trách tổ chức các hoạt động của Hội. Năm 1915, ông được Tổng bộ của Việt Nam Quang phục hội cử sang Thái Lan giao thiệp nhờ hai viên công sứ Đức và Áo đóng tại Băng Cốc trợ giúp, cùng đi có Đặng Tử Kính. Sau Việt Nam Quang phục hội bị đàn áp, ông phải bôn tẩu khắp nơi, cuối cùng do thất chí, giảm sút nghị lực và tiến thoái lưỡng nan, ông đã tựa nương bóng Phật tại chùa Thường Tịch Quan Lan Nhược trên núi Vân Sơn ở Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Nguyễn Thường Hiền mất ở đó ngày 28 tháng 12 năm 1925. Ông có lời trối dặn lại trước lúc mất rằng: “Khi nào tôi chết hãy đem xác đi thiêu và vất tro xuống sông Tiền Đường”... Nhận được tin ông mất, Phan Bội Châu có đặt bàn thờ tại nhà riêng ở Bến Ngự (Huế). Bài điếu văn của Phan Bội Châu có câu: “Lửa can tĩnh thiêu xương người khí tiết, sống thanh cao mà chết cũng thanh cao; đời văn minh mỏi mắt chốn quê hương, danh viên mãn nhưng chí chưa viên mãn...”, “Gót bôn tẩu trải bao phen nguy hiểm, khi Hương Cảng, khi Quảng Đông, khi Long Châu, khi Băng Cốc, tức tối đất không dụng võ, giọt khấp đình ai nếm máu Thân Tư: Thuốc cứu đời toan mượn ngón văn chương, nào Yên Kinh, nào Tam Tỉnh, nào Ngô Quận, nào Hán Thành, ngậm ngùi trời chẳng chiều người, phương y thuốc khó ra tay Biền Hoãn; Ngoài năm chục thân già lận đận vóc hạc mình mai; Hai mươi năm hồn mộng đi về sông Lô núi Tản...”.

Nguyễn Thượng Hiền là một nhà cách mạng yêu nước, thiên về khuynh hướng dẫn chủ, cổ vũ duy tân, từ bỏ lập trường quân chủ, quan điểm Nho giáo lỗi thời. Những hoạt động nhiệt thành của ông trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục, phong trào Đông du, Việt Nam Quang phục hội... có đóng góp tích cực cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX.

Nguyễn Thượng Hiền còn là một nhà văn hóa lớn, một thi sĩ tài hoa nổi tiếng trong giới sĩ phu đương thời. Ông đã để lại một sự nghiệp văn học đa dạng, gồm hơn 600 bài thơ, văn bằng chữ Hán, chữ Nôm, sáng tác trong khoảng 30 năm, từ 1885 đến 1918. Sáng tác thơ văn ở Nguyễn Thượng Hiền chủ yếu nhằm vận động chính trị, cổ vũ đấu tranh, phục vụ công cuộc cứu nước.

Nam chi tập là tập thơ văn đáng kể nhất của Nguyễn Thượng Hiền, chia làm ba quyển. Quyển thượng gồm những bài thơ ông làm khi chưa ra nước ngoài. Quyển trung gồm những bài thơ được sáng tác trong giai đoạn 1907 - 1919. Quyển hạ gồm những bài văn xuôi kêu gọi cứu nước, duy tân, thuật chuyện một số nhà ái quốc đương thời. Nam chi tập được xuất bản tại Trung Quốc năm 1925, do Chương Bính Lân viết lời tựa. Cuốn thơ văn này có giá trị lịch sử, văn chương đặc sắc. Có thể tìm thấy ở đó hiện thực đất nước cùng diễn biến tâm tư tình cảm chân thành của tác giả - tâm hồn thi sĩ, lời lẽ thiết tha, thúc giục; ý chí chiến đấu cao, lời lẽ chặt chẽ, hùng hồn; tập trung tố cáo tội ác của bè lũ thực dân, lời lẽ đanh thép, gay gắt; miêu tả nỗi cơ cực của dân tộc, nhân dân, lời lẽ buồn da diết, thấm nỗi tủi hổ. Nam chi tập bộc lộ lòng yêu nước sâu sắc, ý thức trách nhiệm thường trực và lòng căm thù giặc của Nguyễn Thượng Hiền. Các bài Ký Long Thành chư hữu, Tức sự, Long Thành thu nhật, Tống vân phong đạo nhân bắc du, Long Biên tây quách tản bộ hữu cảm... cho thấy con người và vùng đất Hà thành giữ một vị trí quan trọng trong thơ ông. Phan Bội Châu nhận xét thơ ông: “Kiểu theo Thịnh Đường, văn khuôn Tiền Hán”.

Nguyễn Thượng Hiền cũng chân thành trong các trang truyện ký lịch sử. Ông dùng những câu văn giản dị phác họa vẻ đẹp cao cả của các nhân vật lịch sử Tăng Bạt Hổ, Phạm Hồng Thái, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Cao, Lê Tăng Trai, Nguyễn Thận Sinh, Tôn Thất Đạm... Văn Nguyễn Thượng Hiền toát lên chí khí quyết tâm của phái cách mạng bạo động. Chính ông cũng đại diện cho mẫu hình tư tưởng tiến bộ của sĩ phu Bắc Kỳ ngay sau Phan Bội Châu.

Ngoài Nam chi tập, Nguyễn Thượng Hiền còn có Viễn hải quy Hồng, Hát Đông thư dị; thơ điếu, tiễn biệt Hoàng Hoa Cương, Hồ Hán Dân, Hoàng Hưng; thư gửi Nguyễn Lộ Trạch; câu đối chữ Hán; thơ, phú Nôm (Bài phú cải lương, Thuyết hợp quần doanh sinh, Chơi Sài Sơn...).

Trong nền văn chương yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nguyễn Thượng Hiền đã có một địa vị xứng đáng. Thơ văn Nguyễn Thượng Hiền cả chữ Nôm lẫn chữ Hán đều chứa đựng tình cảm thấm thía, tư tưởng sâu sắc, với nhiều giằng xé dằn vặt. Ban đầu tư tưởng, tình cảm của ông phát triển theo hướng tiêu cực, nửa muốn thoát ly trần tục, nửa vẫn nặng một mối sầu mơ hồ do chưa tìm thấy đường đi và chịu ảnh hưởng của đạo Lão, đạo Phật:

Hiển khởi văn oanh hoán,

Xuân hàn tọa thảo đường.

Tình hà cách thủy đạm,

Mai liễu nhật song hương.

Bạch nhật thôi nhân sự,

Thanh sơn khuyến khách trường.

Dạ lai hương quốc mộng,

Thiên mẫu tận canh tang.

(Sơn phòng xuân văn)

(Sớm mai dậy nghe chim oanh hót,

Xuân lạnh ngồi trong mái nhà tranh.

Cách mặt nước, Ngân hà ánh nhạt,

Vào cửa sổ, mai liễu đưa mùi thơm.

Mặt trời giục việc người đời,

Non xanh khuyên khách uống rượu.

Đêm mộng thấy làng nước,

Ngàn mẫu đều cấy lúa, trồng dâu)

Đó là chân dung Nguyễn Thượng Hiền trong thơ, một Nguyễn Thượng Hiền bình lặng, gắn bó, hòa làm một với thiên nhiên, cảm thụ thiên nhiên theo tinh thần của Đạo giáo. Càng về sau, do chứng kiến những biến cố đau xót của nước nhà, nếm trải mọi cảnh sống, giao thiệp với Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế... ông từ bỏ lối viết đài các ủy mị, ước mơ xa xôi thoát tục, chuyển dần sang văn phong hiện thực, lời lí mạnh mẽ, cương quyết, tràn đầy nhiệt huyết cách mạng. Nguyễn Thượng Hiền là nhà Nho trung nghĩa, đồng thời cũng là nhà Nho ẩn dật, một nhà thơ yêu nước lưu vong. Ông đem cả cuộc đời cống hiến cho Tổ quốc, dùng thơ văn để cổ động cứu nước và duy tân. Cái nhìn mới mẻ, tấm lòng yêu nước, thương dân của ông đã có tác dụng kích thích lòng căm thù thực dân đế quốc, khơi gợi những tình cảm dân tộc sâu sắc ở người đọc./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Khánh Dư – danh tướng thủy binh
    Trần Khánh Dư người huyện Chí Linh (Hải Dương), chưa rõ năm sinh, mất năm 1339, dòng dõi tôn thất nên được phong tước Nhân Huệ vương. Khi quân Nguyên mới sang xâm lược nước ta, ông thường nhằm chỗ sơ hở đánh úp, Trần Thánh Tông khen là có chí lược, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Khi đánh dẹp ở miền núi thắng lớn, được phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi từ tước hầu, do được vua yêu, thăng mãi lên Thượng vị hầu áo tía, giữ chức phán thủ. Sau vì tư thông với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, phải lui về ở Chí Linh làm nghề bán than.
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Khai mạc triển lãm ảnh “Những góc nhìn di sản”
    Trong khuôn khổ các họat động giao lưu văn học nghệ thuật của văn nghệ sĩ Hà Nội - Huế - TP Hồ Chí Minh đã diễn ra Lễ khai mạc triển lãm ảnh “Những góc nhìn di sản” tại trụ sở Liên Hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP Huế.
  • Đưa cải lương đến trường học, lan tỏa tình yêu nghệ thuật truyền thống
    Những làn điệu cải lương giàu cảm xúc cùng câu chuyện lịch sử hào hùng về “Thái sư Trần Thủ Độ” do các nghệ sĩ Nhà hát Cải lương Hà Nội thể hiện tại Trường Tiểu học Vân Phú (xã Phúc Lộc, Hà Nội) đã mang đến cho học sinh trải nghiệm nghệ thuật giàu cảm xúc, giúp các em hiểu thêm về lịch sử dân tộc và thêm yêu các giá trị văn hóa truyền thống.
  • Hà Nội phân luồng giao thông phục vụ Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI
    Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI (nhiệm kỳ 2026 - 2031) sẽ diễn ra từ ngày 11/5 đến 13/5 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (phường Từ Liêm, Hà Nội). Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, lực lượng chức năng sẽ tạm cấm, hạn chế xe cộ tại một số khung giờ.
Đừng bỏ lỡ
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
  • Phát động cuộc thi chuyển thể truyện tranh “Kính vạn hoa”
    Với mong muốn mang đến hình thức thể hiện mới cho bộ truyện “Kính vạn hoa”, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức Cuộc thi chuyển thể tác phẩm văn học “Kính vạn hoa” sang truyện tranh. Cuộc thi được phát động đúng dịp sinh nhật nhà văn Nguyễn Nhật Ánh (7/5).
  • Nhìn lại diện mạo văn học thiếu nhi hôm nay
    Sáng 7/5/2026, Nhà xuất bản Kim Đồng phối hợp cùng Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức tọa đàm “Văn học thiếu nhi từ góc nhìn của người viết trẻ”. Tọa đàm là cơ hội để nhìn lại đời sống văn học thiếu nhi hiện nay; vị trí, vai trò của văn học thiếu nhi trong đời sống đương đại và cách người viết trẻ hiện nay tiếp cận thế giới tâm hồn trẻ thơ.
Nguyễn Thượng Hiền – nhà chí sĩ, nhà thơ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO