Những trang tản văn đằm thắm tình đời, tình người

PGS.TS Vũ Nho| 07/11/2021 08:55

Đọc cuốn Ký ức lời ru của Phạm Ngọc Tâm Dung, NXB Hội Nhà văn, 2021

Những trang tản văn đằm thắm tình đời, tình người

Nhà giáo dạy văn  Phạm Ngọc Tâm Dung sau chuyển nghệ làm nhà báo của báo Phụ nữ Việt Nam vốn không định lấy văn chương làm sự nghiệp. Bằng lòng với chuyện làm nghề đưa đò, rồi sau làm việc gỡ rối cho những khúc mắc tình cảm của chị em phụ nữ, chị chỉ thi thoảng làm mấy câu thơ ghi vào sổ tay như một kỉ niệm cho riêng mình.

Rồi khi nghỉ hưu, nghỉ cả công việc kinh doanh, chị lập trang Facebook như mọi người, chỉ để giao lưu bè bạn. Lúc đó nhu cầu viết mới xuất hiện. Ban đầu, chỉ là những bài thơ, mẩu chuyện để giao đãi với mọi người. Cho đến khi cùng những người bạn tâm giao tập hợp và in hai tập thơ văn Miền cổ tích, lập trang mạng Miền cổ tích thu hút 300 thành viên, được bạn bè tín nhiệm phong chức “trưởng miền” thì nhu cầu viết bỗng bùng lên mạnh mẽ. Ngoài việc viết bình luận thường xuyên cho các bài đăng trên trang, chị còn làm rất nhiều thơ, viết nhiều tản văn, và viết cả truyện ngắn, truyện dài. Đặc biệt, tuy không nhiều, Tâm Dung còn viết phê bình văn học với các bài bình thơ, chân dung tác giả và phê bình tập truyện…

Với riêng tản văn, có thể nhận thấy tác giả không viết về những gì lớn lao, to tát mà hướng đến những gì gần gũi, thân thương, hết sức bình dị của đời thường. Cây ngô, rau cần, mắm cáy, củ súng, bồng khoai, ốc nhồi, cua ngôm. Rồi sương, rồi mưa đầu đông, rồi mùa thu. Rồi cúc họa mi Hà Nội, mùa đông Hà Nội… Bất cứ đề tài nào, người đọc cũng được thưởng thức những khám phá tinh tế, thú vị, giàu chất thơ của một ngòi bút khá tài hoa, của một tâm hồn giản dị, khiêm nhường, dễ thân gần, dễ mến thương.

Tản văn của Tâm Dung là những bài thơ văn xuôi giàu nhịp điệu. Hãy cùng tác giả khám phá những bắp ngô non của cây ngô quen mà lạ: 

“Đâu đó bên nách lá, là một đôi bầu bắp, xanh nõn nà, nhu nhú, trinh nguyên, với một dúm râu vàng ươm như những búp tơ của con tằm khổng lồ nào đó chui vào làm tổ. 

Thoang thoảng đâu đây một mùi thơm như sữa mẹ đang phả vào làn môi của bé khi ẵm ngửa, cho ta nếm cảm xúc hạnh phúc, cảm xúc của niềm vui no đủ, ngọt ngào mà bình dị thân thương. Rồi bất giác, ta đưa tay vuốt nhè nhẹ “búp tơ” non nõn và mềm mướt mát lạnh kia, ta lại có một liên hệ ngay tới lời thơ như đồng dao của cô bảo mẫu, liên hệ đến nhúm tóc mềm như tơ và vàng hoe của bé, liên hệ

đến nhịp đung đưa của võng mẹ dập dìu, đưa em vào giấc ngủ khi em quấy nũng, giống như thân ngô mẹ khẽ khàng cùng gió mát lành ru con chờ trông sự mọng mẩy, no tròn, cho mùa này và cho muôn mùa sau...” (Tản mạn về ngô).

Với cây rau cần, tác giả lí giải vì sao mà trong bài ca dao thách cưới, người bình dân lại chọn rau cần chứ không phải loại rau nào khác: “Thân cần lại dài óng ả và trắng nõn trắng nà; “trắng như ngó cần”. Dù sống trong bùn lầy mà chẳng hề có một chút cáu bẩn nào bám nổi vào thân. Lại nữa, chòm lá xanh tươi lúc nào cũng bóng như thoa mỡ, hồn nhiên giản dị chẳng cần chăm bón nhiều... làm cho ai đó có thể liên tưởng đến sự nết na, dáng mảnh mai, làn da trắng nõn và mái tóc xanh mướt của người con gái trăng tròn thôn quê chăng?” (Rau cần quê tôi).

Tác giả khi nói về những món ăn bình dân từ những sản vật  của  đồng ruộng, ao hồ, thật chẳng khác gì một người nội trợ sành chế biến, một chuyên gia ẩm thực. Ví như vị ngon của canh rau cần: “Bát canh bốc khói, bắt mắt với màu trắng nõn của rau, màu đỏ hồng cà chua, màu xanh ngắt của vài cọng thì là, hành hoa. Mùi hương sực nức đặc trưng của bát canh cần cộng với mùi thơm ngai ngái nồng nàn của cây cỏ củi khô vườn nhà hoặc rạ rơm đồng làng. Và nhất là ngồi ăn cùng cơm mới vụ mùa vừa chín tới trong bếp ấm  áp  trên manh chiếu trải vội thì… ngon thôi rồi!” (Rau cần quê tôi). Hay như món cá nướng: “Cá quả để nguyên con, gói trong lá cỏ tranh, lá tre, bọc ngoài lớp lá chuối tươi, khoét một mảng đất vườn, chất rơm mới mà đốt. Bóc lớp lá cháy đen là hiện nguyên con cá vàng ươm, thịt trắng nõn, thơm nức mũi, chấm muối ớt chỉ thiên, nhắm cùng rau cần bóp ghém” (Rau cần quê tôi).

Tản văn của Tâm Dung thấm đẫm những kỉ niệm, nhất là kỉ niệm tuổi thơ. Qua những trang văn, chúng ta gặp lại thuở thơ ngây của mình qua những kỉ niệm  của tác giả. Đó là kỉ niệm nằm trong lòng bà nghe tiếng ru của thím (Kí ức lời ru), kỉ niệm bắt cua ngôm (Lần đầu bắt cua ngôm), câu cáy, nướng ngô ngoài đồng,  lấy rau cần cùng người lớn, ăn ốc rằm tháng tám…

Tản văn của Tâm Dung thường được viết từ những kinh nghiệm sống phong phú, những trải nghiệm thực tế của một người sống chậm, sống kĩ, ưa quan sát,  ham mê khám phá. Hãy nghe tác giả luận về mùi thơm ngô nướng, viết về cái khăn của người phụ nữ  Hà Nội nói riêng và xứ Bắc nói chung hay cảm nhận nét đẹp của cánh đồng cúc họa mi thì sẽ rõ điều đó.

Với vốn văn chương được đào tạo bài bản ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội?, với niềm đam mê thơ ca, khi viết tản văn, Tâm Dung đã liên tưởng, đã vận dụng những câu ca dao dân gian, các câu thơ nổi tiếng của các nhà thơ hiện đại trong nước. Điều đó làm cho bài viết thấm đẫm chất thơ, đồng thời chứa đựng những kiến thức vừa rộng, vừa sâu, làm tăng tính hấp dẫn, quyến rũ. Chẳng hạn trong bài Kí ức lời ru, tác giả đã 13 lần dẫn các câu ca dao, dân ca trong các lời ru. Trong bài Tản mạn về ngô, ngoài bài đồng dao của cô giáo, tác giả còn trích thơ Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Trúc Thông. Trong bài Sương, có tới 7 lần tác giả trích thơ của mình và các nhà thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Quang Dũng, Trần Hữu Thung, Nguyễn Duy. Những câu thơ thật hay, thật đẹp được trích và đặt vào bài viết đúng lúc, đúng làm cho người đọc thích thú. Ngoài ra, các bài khác như Canh bồng khoai nước dại,  Mưa đầu đông,  Rằm tháng tám nói chuyện ốc, Tản mạn thu, Rau cần quê tôi, Mùa hoa gạo, Ngày đầu đời của con… không ít thì nhiều đều có những câu thơ dân gian hoặc hiện đại điểm xuyết trong bài viết.

Có thể nói rằng bằng một giọng văn dịu dàng, thủ thỉ, thân thiện, Phạm Ngọc Tâm Dung đã tạo nên những trang tản văn đằm thắm tình đời, tình người. Đó là một điểm sáng lung linh trong những trang viết của tác giả. Tôi nghĩ rằng những trang tản văn đó giúp người ta yêu cuộc đời này hơn, biết ơn những sản phẩm nông nghiệp, biết ơn những người làm ra hạt lúa, củ khoai nuôi sống con người và biết ơn các nhà văn, những người viết đã cho mọi người được sống thêm một cuộc đời khi hưởng thụ những giá trị văn hóa  tinh thần trong những áng văn hay. 
(0) Bình luận
  • “Thời hoa lửa” và hành trình gìn giữ ký ức của nữ nghệ sĩ Thanh niên xung phong Thủ đô
    Ngày 9/5, tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đã diễn ra lễ ra mắt tập tự truyện “Thời hoa lửa” và tập thơ “Ký ức và lòng nhân ái” của nghệ sĩ, nhà thơ Nguyễn Thị Bích Liên.
  • Phát động cuộc thi chuyển thể truyện tranh “Kính vạn hoa”
    Với mong muốn mang đến hình thức thể hiện mới cho bộ truyện “Kính vạn hoa”, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức Cuộc thi chuyển thể tác phẩm văn học “Kính vạn hoa” sang truyện tranh. Cuộc thi được phát động đúng dịp sinh nhật nhà văn Nguyễn Nhật Ánh (7/5).
  • Ra mắt tập truyện "Những gì tôi thấy ở Việt Nam" của nhà văn Ajdar Ibrahimov
    Sáng 5/5, tại Viện Phim Việt Nam (523 Kim Mã, Giảng Võ), diễn ra buổi giới thiệu tập truyện ngắn “Những gì tôi thấy ở Việt Nam” của Ajdar Ibrahimov - đạo diễn, biên kịch, nhà văn nổi bật của Azerbaijan và là một trong những người đặt nền móng cho điện ảnh cách mạng Việt Nam.
  • Tái hiện chân dung phi công Vũ Xuân Thiều và chuyến bay bất tử
    Nhân kỉ niệm 51 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026), Nhà xuất bản Kim Đồng ra mắt bạn đọc ấn phẩm mới “Vũ Xuân Thiều và chuyến bay bất tử”. Cuốn sách nằm trong bộ “Người lính phi công kể chuyện” của Đại tá Nguyễn Công Huy, gồm ba cuốn, tái hiện những câu chuyện lịch sử về Không quân Nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
Những trang tản văn đằm thắm tình đời, tình người
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO