Văn hóa – Di sản

Phạm Đình Hổ - học giả, nhà văn viết ký sự tài

Nguyễn Như Trang 22/11/2023 17:21

Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) tự là Tùng Niên, Bỉnh Trực, hiệu Đông Dã Tiều, quê ở làng Đan Loan, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, nay thuộc xã Nhân Quyền, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương. Sinh thời, ông không phải là một nhân vật nổi bật bởi tài năng chính trị, nhưng lại nổi tiếng về văn chương học vấn, tên tuổi của Phạm Đình Hổ cũng được vua Minh Mạnh biết đến với tư cách là một trong những người có tài văn chương nổi tiếng nhất Bắc thành.

pham-dinh-ho.jpg
Danh nhân Phạm Đình Hổ.

Phạm Đình Hổ sinh ra trong một gia đình trâm anh thế phiệt, cả dòng họ nội và họ ngoại đều nổi tiếng hiển đạt. Cha là Phạm Đình Dư, biệt hiệu Diệc Hiên tiên sinh, đậu cử nhân, làm Hiến sát Nam Định, sau được thăng Tuần phủ Sơn Tây; năm 1774 ông cáo quan về ở phường Hà Khẩu. Cha Phạm Đình Hổ từng là một người thầy khả kính ở đất Thăng Long, có nhiều học trò và bạn bè thành danh.

Khi còn nhỏ, Phạm Đình Hổ được sống trong nhung lụa, đó là thời kỳ gia đình ông có cuộc sống ổn định và phồn vinh; nhưng khi gặp phải ng gió, cuộc sống ấy cũng qua đi. Lời tự thuật của Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút đã kể về sự ra đi của người mẹ, cha và anh chị trong 5 năm liền khiến cho gia cảnh tiêu điều, bản thân ông phải lưu lạc. Cảnh li tán của gia đình Phạm Đình Hổ cũng dễ hiểu bởi ông sống vào giai đoạn lịch sử mà đất nước có bước ngoặt lớn. Ông chứng kiến thời kỳ loạn lạc, vua đổ, Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh, triều đình vua Lê, chúa Trịnh sụp nhà Tây Sơn lên nắm quyền. Thời gian này, Phạm Đình Hổ dạy học ở quê.

Khi nhà Nguyễn lên nắm vương quyền, Gia Long lên ngôi, cho khôi phục lại việc khoa cử, học hành. Phạm Đình Hổ đi thi Hương ba lần nhưng đều không đỗ. Ông say mê dạy học trong thành Thăng Long và kết giao với nhiều nhà thơ và danh sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ (như nữ sĩ Hồ Xuân Hương). Sau này, sau bao lần lận đận, Phạm Đình Hổ chỉ đỗ Sinh đồ.

Tiếng tăm về học vấn văn chương của Phạm Đình Hổ đã vượt ra khỏi khuôn lệ thi cử quan trường. Năm 1820, nhà Nguyễn có chỉ đời ông và Phan Huy Chú đến Huế để cất dùng, nhưng không may, Phạm Đình Hổ lại bị bệnh, ông ốm nặng nên không vào được.

Đến năm Tân Tỵ 1821, vua Minh Mạng khởi hành ra Bắc, nghe tiếng tăm của Phạm Đình Hổ đã lâu nên vời ông ra hỏi về học vấn, thi cử và hiện trạng nhân tài đất Bắc; nhà vua còn yêu cầu ông dâng những sách đã biên soạn cho triều đình. Phạm Đình Hổ sau khi đã trình bày rất đầy đủ và cụ thể xung quanh việc học hành, khoa cử và tình hình nhân tài trong thiên hạ, ông còn dâng lên nhà vua sách do mình biên soạn. Qua sự kiến giải của Phạm Đình Hổ và qua các sách ông đã biên soạn, Minh Mệnh rất nể phục và có ý muốn trọng dụng. Quả thật, sau đó, Minh Mạng triệu ông vào cung đình Huế làm Hành tấu Viện Hàn lâm, khi ấy ông 54 tuổi. Làm được một thời gian ngắn, Phạm Đình Hổ xin từ chức.

Đến năm Minh Mạng thứ 7 (1826), nhà vua lại tìm cách vời ông vào Huế và giao cho ông chức Thừa chỉ Viện Hàn lâm, sau đó làm Tế tửu Quốc Tử Giám, rồi ông cáo bệnh xin nghỉ việc. Một thời gian sau, Phạm Đình Hổ lại được vời ra làm việc, được thăng đến Thị giảng học sĩ.

Đến năm Nhâm Thìn (1832), Phạm Đình Hổ xin được về hưu, ông không màng đến chuyện công danh gì nữa. Được vài năm, đến năm Kỷ Hợi 1839, Phạm Đình Hổ mất, thọ 71 tuổi.

Sinh thời, Phạm Đình Hổ muốn sưu tập văn chương nổi tiếng ở đời nên ông đã dành rất nhiều thời gian và công sức để biên soạn, ghi chép và sáng tác. Ông đã để lại nhiều công trình khảo cứu, biên soạn có giá trị ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Tác phẩm của Phạm Đình Hổ phong phú, bao gồm nhiều lĩnh vực, như: văn học, ngôn ngữ học, văn hóa học, sử học, địa lý... Tại thư viện của Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ được 22 tập sách của ông.

Tác phẩm chủ yếu có 2 tập văn: Vũ trung tùy bút (Tùy bút trong mưa) và một tập viết chung với Nguyễn Án (1770 - 1815) với nhan đề Tang thương ngẫu lục (Ghi chép ngẫu hứng về những đổi thay dâu bể); 2 tập thơ: Đông Dã học ngôn thi tập (Tập thơ học nói của Đông Dã), Tùng cúc liên mai tứ hữu (Bốn bạn thông, cúc, sen, mai); và các sách An Nam chí (Ghi chép về nước An Nam), Ô Châu lục (Ghi chép về Ô Châu), Ai Lao sứ trình (Hành trình đi sứ Ai Lao)...

Cả hai tập văn xuôi của Phạm Đình Hổ đều in đậm chất ký sự, ghi chép những điều trông thấy, những chuyện đã trải qua hay được nghe kể lại. Sách Vũ trung tùy bút gồm hai quyển, chia thành 90 đề mục. Với kiến thức phong phú và khả năng quan sát tinh tế, Phạm Đình Hổ viết về nhiều chủ đề, bao quát từ mô tả thế giới các loài hoa, các lối chữ viết, các cách uống chè đến bàn về phong tục tập quán, hôn lễ, khoa cử, các danh nhân và địa danh nổi tiếng trong nước. Về cơ bản, tác phẩm của ông bao quát bốn nội dung chính: 1- Khảo sát phong tục; 2- Ghi chép thực trạng xã hội đương thời; 3- Ghi chép theo phong cách viết du ký về các chuyến đi, các danh lam thắng cảnh; 4- Phát biểu quan điểm và phân tích đặc điểm một số thể thơ chủ yếu... Trong từng mục bài, tác giả có nhiều trang tự thuật và thường xuyên phát biểu cảm nghĩ trước mọi sự việc, hiện tượng, đặc biệt thực trạng đời sống nơi kinh thành mà ông quen thuộc... Phần viết của Phạm Đình Hổ trong Tang thương ngẫu lục có 35 truyện (Nguyễn Án viết 34 truyện và 21 truyện không ghi tác giả). Nội dung các truyện cũng tương tự như Vũ trung tùy bút nhưng nghiêng hẳn về ghi chép liệt truyện danh nhân, thu nạp nhiều yếu tố hoang đường, mang màu sắc phong thủy và quan niệm “Thiên nhân tương dữ”. Ông cảm nhận cuộc sống đang dần trôi qua, những giá trị truyền thống cũng dần mất mát, phôi pha. Ông ghi chép lại những tấm gương đạo đức, những lối sống đẹp, những câu chuyện lạ như một cách níu kéo thời gian, tìm lại quá khứ, mong muốn nối dài truyền thống đến mai sau.

Phạm Đình Hổ viết Vũ trung tùy bút lúc ngoài ba mươi tuổi, có lần ông tự thuật: “Còn nhớ khi bà cung nhân ta hãy còn, người thường lấy những điều cờ bạc chè rượu làm răn, mà ta nay đã ngoài ba mươi tuổi, bốn điều răn ấy đã phạm mất ba”. Vũ trung tùy bút là những lời được chiết ra từ tâm can của con người hết lòng với dân với nước. Trong Vũ trung tùy bútTang thương ngẫu lục, Phạm Đình Hổ viết về quá khứ của mình, đó là một quá khứ có nhiều biến động, từ một người sinh ra hưởng vinh hoa phú quý đến khi: “Gia cảnh thì tiêu điều, ta thì lưu lạc giang hồ đoái nhìn non sông mờ mịt, khôn cầm giọt lệ”. Bên cạnh đó, tác phẩm còn nói nhiều đến thời cuộc loạn lạc, nhiễu nhương. Với khuôn khổ tự do, phạm vi bao quát thời gian và không gian không hạn của thể tùy bút, ký lục, hai tác phẩm trên đã phát huy được những hiểu biết sâu rộng, khả năng quan sát nhạy bén về các sự vật hiện tượng trong đời sống xã hội của tác giả.

Bên cạnh các tác phẩm tùy bút, Phạm Đình Hổ cũng như các nhà Nho đương thời còn gửi gắm tâm tư tình cảm của mình qua những vần thơ. Trong thơ ca của ông hiện lên nỗi lòng và tâm sự rất đỗi riêng tư, bộc lộ nội tâm sâu thẳm từ đáy lòng mà không dễ gì có thể dãi bày qua tùy bút. Thơ ông chỉ trở nên ấm áp hơn khi hướng về cuộc đời, đồng cảm với niềm vui thiếu nữ đứng trước khóm hoa xuân hay cô gái vừa mới lấy chồng. Sống giữa giai đoạn trào lưu nhân văn phát triển, thơ ông mở rộng sự quan tâm đến số phận người phụ nữ, người đẹp tài hoa. Bài thơ Cựu ca cơ (Cô đào hát ngày xưa) tiêu biểu cho tấm lòng liên tài, cảm thương số phận con người và bâng khuâng trước dòng chảy thời gian:

Đầu phố Chức Cẩm đây là nhà thiếp ở,

Có ngờ đâu cái kiếp trâm thoa lỡ làng đến thế này.

Trước vẫn bưng nữ trang chầu chực cung bà Tuyên phi,

Sau cầm phách gõ nhịp vào hát ở Bộ Lại.

Đổi thay dâu bể bao phen, từng giật mình trong mộng,

Thân phận quần thoa không lối nào, chỉ liều sống buông xuôi.

Chẳng biết mặt trăng trước cung Liên Thụy,

Năm này đi, năm khác đến, nay so với trước thế nào?

Thơ Phạm Đình Hổ còn in đậm tâm sự hoài cảm, bất đắc chí trước thời cuộc. Ông thể hiện mình như một người tha hương, cô đơn, không biết trò chuyện cùng ai. Do đó, người đọc đôi khi bắt gặp trong thơ Phạm Đình Hổ một con người tha thiết hướng về quê hương với những kỉ niệm xa xưa:

Khứ tuế đào hoa phát,

Lân nữ sơ học kê.

Kim tuế đào hoa phát,

Dĩ giá lân gia tê (tây).

Khứ tuế đào hoa phát,

Xuân phong hà thê thê.

Lân nữ đối hoa khấp,

Sầu thâm mi chuyển đê.

Kim tuế đào hoa phát,

Xuân thảo hà thê thê.

Lân nữ đối hoa tiểu,

Ngâm thành thủ tự đề.

(Hoài cố)

Dịch nghĩa:

Năm ngoái hoa đào nở,

Cô gái láng giềng mới học cài trâm,

Năm nay hoa đào nở,

Cô đã lấy chồng ở nhà láng giềng phía tây.

Năm ngoái hoa đào nở,

Gió xuân sao lành lành,

Đứng trước hoa cô gái láng giềng khóc,

Buồn quá đôi lông mày sa xuống.

Năm nay hoa đào nở,

Cỏ xuân sao mà xanh tươi.

Đứng trước hoa cô gái láng giềng tươi cười

Thơ làm xong tự tay cô viết lấy.

(Cảm nhớ chuyện cũ)

Trong các vị vua ở nước ta thời phong kiến, Minh Mạng nổi tiếng là người biết nhìn người. Ngay cả khi Phạm Đình Hổ đã nhiều lần từ chối làm quan hoặc năm lần bảy lượt xin cáo quan trở về nhưng ông vẫn được Minh Mệnh rất tin dùng, quý mến và có phần nể trọng. Bởi vị vua này đã nhận thấy ở Phạm Đình Hổ có những tố chất mà người khác không có được, đó là một người “văn chương vượt trội, tính tình ngay thẳng, không xu phụ quyền trọng” (chiếu chỉ thăng chức ngày 16 tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 7, 1826). Với chí khí ngay thẳng và tài năng văn chương của mình, Phạm Đình Hổ xứng đáng là một trong những danh nhân của vùng đất Thăng Long - Hà Nội./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Quang Khải – thượng tướng, nhà thơ
    Trần Quang Khải là con trai thứ ba Trần Thái Tông, sinh năm 1240, mất năm 1294. Dưới triều Trần Thánh Tông (1258-1278), Trần Quang Khải được phong tước Chiêu Minh đại vương. Năm 1274, ông được giao chức Tướng quốc thái úy.
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải lưu vực S3, nhà máy xử lý nước thải Phú Đô
    Tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề) ngày 11/5, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải cho lưu vực S3 tại các phường Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Yên Hòa, Phú Diễn, Từ Liêm, Đại Mỗ và Nhà máy xử lý nước thải Phú Đô, Thành phố Hà Nội, theo hình thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT).
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Quốc lộ 1A lên 90m
    Dự án trục không gian Quốc lộ 1A có chiều dài khoảng 36,3km, đoạn từ đường Vành đai 1 đến nút giao Cầu Giẽ, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 162.000 tỷ đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
Phạm Đình Hổ - học giả, nhà văn viết ký sự tài
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO