Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Sơn Đồng - Nơi thổi hồn vào gỗ

Đào Thị Thu Hiền 26/09/2023 15:08

Xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức nằm ở ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thủ đô khoảng chừng gần hai chục cây số về phía Tây, không chỉ nổi tiếng là đất khoa bảng mà còn được nhiều người trong và ngoài nước biết đến là một làng nghề làm đồ thờ và tượng gỗ, đặc biệt là tượng phật, tượng thánh.

1.-tam-quan-dinh-lang-son-dong-noi-tho-to-nghe-lam-tuong.jpg
Tam quan đình làng Sơn Đồng - Nơi thờ tổ nghề làm tượng.

Phải nói rằng, với óc thẩm mỹ tinh tế và đôi bàn tay đặc biệt tài hoa, những người thợ làng Sơn Đồng đã cho ra đời nhiều tác phẩm nghệ thuật rất đẹp, có thể nói là đạt đến đỉnh cao hiếm thấy nơi nào sánh được, như thể tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt; tượng ông Thiện, ông Ác; tượng Tam Thế Phật; tượng phật A Di Đà; tượng phật Thích Ca Mâu Ni; tượng phật Di Lặc; tượng phật Địa Tạng Vương; tượng phật Tuyết Sơn; tượng phật Văn Thù - Phổ Hiền, tượng phật thập bát La Hán, tượng phật Mẫu Chuẩn Đề... Và bây giờ đi đến nhiều nơi trong nước; thậm chí ra nước ngoài, châu Á và châu Âu người ta đều trông thấy rất nhiều những pho tượng quý được bày trong các đình, đền, chùa, miếu, phủ do đôi bàn tay khéo léo của những người thợ Sơn Đồng tạo thành.

Đặt chân đến Sơn Đồng chúng ta như được bước vào thiên đường của thế giới chạm khắc đồ thờ, tượng phật, tượng thánh. Ở đây hầu như cả làng làm tượng, trên là trời dưới là tượng, nhất là tượng phật; có những pho tượng đang trong quá trình tạo tác ở trong xưởng, ngoài sân, có khi cả ngay bên lề đường; có những pho tượng đã được hoàn thiện đẹp đẽ tựa như “mặt hoa da phấn, mắt phượng mày ngài, cổ kiêu ba ngấn, miệng cười trăm hoa” (tượng Mẫu) hoặc “mặt sắt mày gươm, binh quyền muôn dặm” (tượng võ tướng) bày đặt trong những gian hàng ở khắp làng. Và rồi, theo vòng quay của thời gian, hết đêm lại tới ngày, dường như từ sáng đến tối, ở Sơn Đồng chỗ nào cũng vang lên những tiếng lách cách đục tượng; khắp nơi nhìn đâu cũng thấy cảnh mài tượng, sơn son thiếp vàng. Cứ thế, âm thầm và lặng lẽ, người thợ tài hoa Sơn Đồng đã tạc hàng trăm, hàng ngàn pho tượng có giá trị dâng lên cho biết bao đền, chùa, miếu, phủ trên khắp mọi miền đất nước từ suốt bao đời đến tận ngày nay.

2.-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-truc-tiep-truyen-nghe-cho-cac-lop-tho-sau.jpg
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh trực tiếp truyền nghề cho các lớp thợ sau.

Tương truyền nghề làm tượng ở Sơn Đồng xuất hiện từ khá sớm. Từ bao giờ thì hẳn chẳng ai còn nhớ được một cách chính xác nhưng tên làng từ lâu đã gắn liền với tên nghề ở nơi đây. Theo truyền miệng và các ghi chép trong ngọc phả từ năm 976 còn lưu lại ở Đền Thượng của làng thì tổ nghề là Đức thánh Đào Trực. Đức thánh từng là Thượng tướng quân tiên phong của triều đình Đại Cồ Việt trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược. Sau khi chém được tên tướng Hầu Nhân Bảo và dẹp xong giặc phương Bắc ông đã đến Sơn Đồng mở trường dạy học và hướng dẫn mọi người trong làng nghề tạc tượng để mưu lợi cho dân. Với công lao này hậu thế giờ đây đã vinh danh ông làm tổ nghề của mình bằng một tên đường mới: Đường Đào Trực, đoạn đường từ ngã ba giao cắt đường Nguyễn Viết Thứ tại thôn Gạch đến ngã ba giao cắt đường liên xã Sơn Đồng - Yên Sở tại trường tiểu học. Trải qua quá trình hơn ngàn năm như thế đến nay đủ thấy nghề làm tượng ở Sơn Đồng đã trường tồn và song hành cùng sự phát triển của đạo phật cũng như đời sống tâm linh trong tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam. Người ta truyền rằng, kể từ khi Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư ra đất Đại La và đổi tên thành Thăng Long, đi qua hơn nghìn năm gắn với biết bao thăng trầm của thời thế cho đến bây giờ, nghệ nhân các đời ở Sơn Đồng đã sớm có mặt trong suốt trường kỳ lịch sử ấy để đóng góp không ít công sức xây dựng các đình đền, chùa, miếu… ở các kinh thành khi thì Thăng Long lúc lại ở Huế và rất nhiều nơi khác trên khắp mọi miền đất nước. Hẳn là những dấu tích ấy vẫn còn được nhắc đến và lưu dấu ở không ít các đình, đền, miếu, phủ, chùa chiền ở khắp nơi: Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hóa, Huế, thành phố Hồ Chí Minh và rất nhiều nơi khác; tỉ như đền Ngọc Sơn, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chùa Một Cột, Kinh thành Huế hay đền thờ Bác Hồ ở Cô Tô, chùa ở Vân Đồn… Như thế thì bảo sao người Sơn Đồng không khỏi tự hào. Cứ thế, lặng lẽ chứ không ồn ào, truyền nhân các đời của làng nghề Sơn Đồng đã sáng tạo nên không ít các di sản văn hóa; đóng góp sức mình vào việc khôi phục và phát triển không ít những công trình văn hóa của thủ đô và đất nước, tô điểm những nét son tươi đẹp cho thành phố vì hòa bình; thủ đô ngàn năm văn hiến.

Đến Sơn Đồng chúng ta sẽ được nghe giới thiệu và hẳn sẽ nhận ra những nghệ nhân ở đây làm tượng theo những bí truyền của cha ông để lại. Người ta bảo đi khắp nơi, trong nước và ngoài nước, đến bất kỳ chỗ nào có tượng phật, tượng thánh, nếu là tượng của người Sơn Đồng thì chỉ cần nhác qua là nhận ngay ra. Nói như vậy, không có nghĩa là tất cả các tượng ở Sơn Đồng đều giống nhau. Những người thợ ở Sơn Đồng làm tượng chỉ giống nhau trên những nét nguyên lý chung của tổ nghề để lại. Bởi thế, mỗi pho tượng ở đây là một công trình sáng tạo nghệ thuật rất công phu và đầy sức hấp dẫn, làm theo những thủ pháp riêng được đúc kết qua thời gian của mỗi gia đình, mỗi hiệp thợ, mỗi nghệ nhân cho nên thế giới tượng ấy thống nhất theo khuôn mẫu nhưng có những nét riêng, rất phong phú và vô cùng tinh xảo; mỗi pho một vẻ, thâm trầm uy nghiêm cũng có mà tươi tắn rực rỡ sắc màu cũng có. Những pho tượng ấy nhìn trang nghiêm mà rất phúc hậu, mang dáng vóc Việt vừa thể hiện được những sắc màu tâm linh vừa mang dáng dấp trang nghiêm cổ kính, dễ dàng cho người xem thấy được cái đậm đà của hồn quê.

3.-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-va-cac-pho-tuong-dang-hoan-thien.jpg
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh và các pho tượng đang hoàn thiện.

Tượng ở Sơn Đồng được làm từ các loại gỗ hương, gỗ mít, gỗ vàng tâm, gỗ dổi; trong đó chủ yếu là gỗ mít. Gỗ mít theo quan niệm trong dân gian là loại gỗ “thiêng”, rất thích hợp cho việc làm các loại đồ thờ cúng. Ngoài ra loại gỗ này có đặc điểm màu vàng tươi, độ bền rất cao, dẻo, mềm, thớ dặm, ít bị nứt, dễ gọt. Thường thì người ta mua gỗ mít từ Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Thọ, Thái Nguyên… trở về Sơn Đồng để làm tượng. Theo kinh nghiệm nếu làm tượng được làm bằng gỗ mít vườn nhà sẽ thích hơn mít rừng nhưng gỗ mít ở vườn nhà rất hiếm; khó mua, thân gỗ lại nhỏ, số lượng ít. Bởi thế gỗ mít ở rừng, ở đồi vẫn là nguyên liệu chủ yếu. Khi gỗ mít mang về người thợ sẽ tiến hành loại bỏ hết phần giác, chỉ dùng phần lõi để làm tượng. Cẩn thận, trước khi làm tượng, có người còn làm lễ trì chú cho gỗ để được hanh thông và linh thiêng.

Khi làm tượng, các nghệ nhân ở Sơn Đồng sử dụng công thức chung của tổ truyền. Đó là cách tính số đo, gọi là diện. Diện là khuôn mặt, được tính từ chân tóc tới cằm (bằng một đầu). Ví như, một pho tượng phật bà Quan âm ngồi thường là bốn diện, nhưng cũng có khi chỉ có ba diện rưỡi hoặc bốn diện rưỡi; tượng đứng thường làm khoảng bảy diện. Chẳng hạn tỉ lệ phân chia ở pho tượng đứng sẽ được tính: từ chân tóc tới cằm là một diện; từ cằm tới rốn là ba diện; từ rốn tới gót chân là ba diện, tổng là bảy diện. Ngoài tỷ lệ về chiều cao của thân tượng, người thợ Sơn Đồng còn tuân thủ theo một số công thức về vai, tay, thân. Cụ thể: vai tượng rộng từ hai đến bốn diện; tay dài khoảng ba diện; thân dày khoảng từ một diện rưỡi đến hai diện. Công thức này cũng có thể điều chỉnh tùy theo làm tượng béo hay tượng gầy, tượng nam hay tượng nữ. Chẳng hạn, tượng nam vai rộng hơn tượng nữ; tượng béo thì thân có độ dày hơn tượng gầy. Đôi khi tỷ lệ này cũng có một số dung sai do những cảm xúc thẩm mỹ của nghệ nhân trong quá trình tạo tác đem lại.

Trong quá trình tạo tác tượng phật, người thợ Sơn Đồng thường hay sử dụng một thước dây và một thước tầm để làm dụng cụ đo đạc. Bắt đầu từ bản mẫu hoặc tùy theo ý định của người thợ và kích thước của khối gỗ người ta đo thể tích để cắt gỗ: chiều cao, chiều ngang và bề dày (kích thước của một khối hình) sau đó cắt “dưỡng” - hình mẫu cắt theo “công tua” hai chiều: chiều nghiêng (nhìn mặt bên tượng) và chiều đứng (nhìn chính diện). Rồi áp từng dưỡng lên khối gỗ, cắt bỏ phần thừa – tạo ra một hình khối đại thể giống như mảnh ni lông hoặc mảnh vải trùm lên pho tượng. Khi làm thì phần đầu, mặt tượng bao giờ cũng được gia công trước tiên. Người thợ tiến hành đục phác thảo những khối mũ (nếu có) rồi đến trán, mũi, môi, tai... Các nghệ nhân ở Sơn Đồng thường phân đôi khối đầu, lấy đường vạch thẳng bổ giữa sống mũi, rồi đục một bên mặt trước; sau đó lấy sống mũi làm trục đối xứng, đục nốt nửa phần còn lại và đối chiếu với các chi tiết bên kia sao cho thật cân xứng. Trên khuôn mặt, các nghệ nhân cũng phân chia từng mảng một cách rất cụ thể. Đó là khoảng cách giữa các bộ phận: hai con mắt, chân tóc tới chân mày, chiều dài sống mũi, bề rộng cánh mũi, giữa môi trên và môi dưới, từ môi dưới tới cằm; độ dày của môi, tai… Trong đó họ rất chú ý thể hiện đôi tai của pho tượng. Tai phật thường to và chảy, đặt cân đối trong khoảng cách từ chân tóc ở hai bên đầu tới cằm, có khi nghệ nhân cho tai dài chạm vai. Ví dụ, tạc pho thượng A Di Đà, khi xong phần diện, họ lấy diện làm chuẩn, bắt đầu tính khoảng cách từ cằm tới tay, từ cằm tới khuỷu tay, từ dái tai tới vai, độ cong của lưng, bề rộng của hai vai, chiều cao của cổ... Sau đó đục dần từ cổ, vai xuống. Ở tượng A Di Đà bề rộng của hai đầu gối (ngồi xếp bằng tròn) thường bằng sáu mươi cm (mẫu tượng to bằng người thật). Nếu khối gỗ không đủ đáp ứng thì người thợ phải chắp gỗ từ khi cắt dưỡng để đảm bảo kích thước.

Sau tính toán tỉ lệ xong nghệ nhân làm tược bắt đầu tạc tượng. Đầu tiên là đục phá để phác lấy dáng chung (tạo dáng thô) suốt từ mặt tới bệ. Tạo dáng thô xong người thợ mới tiến hành tạo dáng chi tiết. Khi đó người làm tượng mới thể hiện dần từng bộ phận của pho tượng. Khâu này được coi là quan trọng nhất trong cả quá trình hoàn thành pho tượng. Trong khi đục người thợ vẫn phải chú ý phân chia các mảng khối, các khoảng cách để đảm bảo các tỷ lệ sao cho pho tượng nhìn phải cân xứng. Sau khi làm xong phần đục chi tiết, người thợ tiến hành gọt, nạo rồi dùng giấy ráp đánh cho nhẵn. Trong khi gọt người thợ dùng thường dùng loại đục dẹt, mỏng để tách các chi tiết sao cho các mảng các khối (chân tay và các ngón) không dính vào nhau, đồng thời thể hiện kỹ các đường lượn, các mảng miếng; chỗ nào cần nổi rõ thì làm bật ra, chỗ nào cầm chìm xuống thì phải dìm đi. Gọt, nạo tượng xong là hoàn chỉnh phần gỗ. Phần gỗ làm xong thì chuyển sang phần sơn.

4.-gian-hang-trung-bay-tuong-phat-cua-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-son-dong-hoai-duc-.jpg
Gian hàng trưng bày tượng phật của Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh (Sơn Đồng - Hoài Đức).

Bình thường của nghề mộc thì gỗ trước khi làm phải phơi khô. Nhưng làm tượng thì không cần vậy vì sẽ rất mất công và gỗ khô cũng sẽ khó đục hơn hơn gỗ tươi. Bởi thế người thợ thường hay làm tượng khi gỗ còn tươi và sau khi đục xong mới làm cho tượng khô rồi mới tiến hành sơn. Trước khi đem sơn, nếu tượng có hiện tượng bị nứt, nẻ người thợ phải dùng dùng sơn ta trộn mùn cưa bả vào những chỗ bị khuyết tật, sau đó để khô rồi nạo cho nhẵn, từ chuyên môn gọi khâu này là “kẹt”. Kẹt xong mới tiến hành sơn. Kỹ thuật sơn son thếp vàng tượng ở Sơn Đồng cũng rất kỳ công, cầu kỳ như nghệ thuật làm vóc sơn mài. Công đoạn sơn cũng là một khâu quan trọng quyết định yếu tố thẩm mỹ của một pho tượng. Quy trình sơn tượng của người thợ Sơn Đồng phải trải qua ba bước: hom, cầm, thiếp. Hom là công đoạn đầu tiên của sơn. Người Sơn Đồng lấy sơn ta trộn với đất phù sa, tỷ lệ sao cho không được non sơn và cũng không được già sơn, rồi “bó” tượng bằng sơn sống, sau đó sơn “thí”. Sau mỗi công đoạn người ta phải mài tượng bằng đá và nước. Sơn lên rồi lại mài đi. Mài xong lại sơn tiếp ... Cứ làm như thế rất nhiều lần cho đến bao giờ thấy bề mặt tượng phẳng nhẵn và mọng lên. Sau đó lại dùng một lớp sơn khác phủ lên (gọi là sơn cầm thếp). Để sơn cầm thếp se (sờ tay thấy còn hơi dính) thì bắt đầu dán quỳ bạc hoặc quỳ vàng để hoàn thành tượng.

Để có lá quỳ bằng bạc hoặc bằng vàng dát lên pho tượng, người thợ phải dùng giấy dó, quét lên một loại mực làm từ nhựa thông, mùn cưa, hồ và keo da trâu. Rồi nấu vàng hoặc bạc chảy thành nước rồi đổ ra khuôn, tráng thành từng miếng mỏng. Tráng xong cắt từng miếng vuông khoảng một cm2 và xếp lên những mảnh giấy quỳ đã cắt vuông khoảng bốn cm2. Tiếp đến người thợ làm quỳ dùng vải mịn bọc chặt chồng giấy quỳ và vàng hoặc bạc để cố định vị trí; miếng vàng hoặc bạc được bọc vải, để lên phiến đá và dùng búa giã khoảng bốn mươi phút cho đến khi miếng vàng hoặc bạc trong đó mỏng ra. Xong lần giã thứ nhất người ta lấy lá vàng đã giã mỏng đem cắt thành mười sáu miếng bằng nhau. Sau đó lại đem xếp xen kẽ từng miếng vàng hoặc bạc với giấy quỳ để giã lần thứ hai, công đoạn này gọi là “trại” (lấy lá vàng hoặc bạc ở giấy quỳ ra). Trại xong thì “long quỳ”, nghĩa là lấy từng lá vàng hoặc bạc sau khi “trại” xếp xen kẽ với giấy và buộc thành từng quỳ. Mỗi quỳ vàng hoặc bạc theo đúng tiêu chuẩn sẽ có bốn trăm chín mươi lá. Thợ làm tượng ở Sơn Đồng thường mua quỳ về để thiếp chứ ít khi làm quỳ.

Tùy theo yêu cầu mà người thợ đem những quỳ vàng hoặc quỳ bạc để thiếp vào pho tượng. Người thợ phải cầm lá quỳ sao cho lá vàng hoặc lá bạc dính vào giấy, sau đó dán lên tượng nhưng không được dí tay. Cuối cùng, nghệ nhân dậm vàng (hay lau vàng) một cách tỉ mỉ để sản phẩm không bị rạn và không bị mất đi độ bóng. Để hoàn thành một pho tượng to người ta phải mất khoảng bốn mươi công đoạn khác nhau như thể đập bóc giấy, lướt quỳ mới, đập giấy vỡ, cắt dòng nong quỳ… Do vậy đòi hỏi người thợ phải thực sự kiên trì, tỉ mỉ với những thao tác kỹ thuật rất cao.

Có lẽ, nhờ sự cần cù, óc sáng tạo và đôi bàn tay tài hoa, khéo léo của người thợ Sơn Đồng mà cái nghề thổi hồn cho gỗ ấy bây giờ đang ngày một ăn nên làm ra đem lại thu nhập và công việc cho rất nhiều người và cũng trở nên nổi tiếng khắp cả nước. Chẳng thế mà năm 2007 sách Kỷ lục Việt Nam ghi nhận, đánh giá Sơn Đồng là làng nghề tạc tượng và làm đồ thờ lớn nhất cả nước; đồng thời cũng được bình chọn, xếp hạng là làng nghề lọt vào top mười làng nghề tiêu biểu của cả nước. Phải nói rằng để làm được cái thương hiệu vang danh, nức tiếng như thế quả không dễ một chút nào. Đó phải là biết bao tâm sức, trí tuệ truyền đời của các thế hệ nghệ nhân ở Sơn Đồng. Giờ đây, địa danh Sơn Đồng đã trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn của thủ đô được nhiều người biết đến; không chỉ là nơi có rất nhiều sự tích kể về con người và vùng đất mà còn là làng nghề độc đáo, tài hoa để cho du khách được trải nghiệm; được sống với cái hồn văn hóa của cha ông. Và cứ như thế, nghệ nhân Sơn Đồng lại âm thầm lưu giữ trong lòng người xem những tinh túy của ông cha; làm sống dậy cái hồn thiêng của dân tộc; lan tỏa và lưu truyền các giá trị nghệ thuật cho muôn đời sau. Mạch nguồn thầm lặng đó thật đáng quý và đáng yêu biết bao. Tiến tới, có lẽ không dừng lại ở việc là một điểm du lịch làng nghề, Sơn Đồng còn là một nơi trải nghiệm cho học sinh trong các nhà trường về một nghề mỹ nghệ truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc tuyệt vời cho các nhà trường trong và ngoài thành phố./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Đào Thị Thu Hiền. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.
Bài liên quan
  • Hà Nội của tôi
    Hà Nội của tôi! Những năm tuổi thơ tôi thích cùng chúng bạn đi tàu điện leng keng ra Bờ Hồ chơi. Chúng tôi chạy lăng xăng trên cầu Thê Húc, chiếc cầu nhỏ cong cong như đi vào cổ tích, cùng ngắm những làn sóng lăn tăn lấp lánh trong nắng ban mai, cùng háo hức chờ ông Rùa nổi lên mặt nước, như chờ xem truyền thuyết Hồ Gươm. Tôi cũng rất thích trò chơi trốn tìm, núp mình sau những thân cây cổ thụ nghiêng nghiêng bên hồ, ngồi ngắm tháp rùa, đón làn gió mênh mang thổi qua mặt hồ xao động và thưởng thức kem Tràn
(0) Bình luận
  • Đường Láng tôi yêu
    Hai mươi năm sống trong con ngõ nhỏ ở đường Láng nên đường Láng đã trở thành người bạn đồng hành, yêu quý của tôi. Tôi đã chứng kiến và sẻ chia những vui buồn cùng nó. Đó là những tình cảm thân thương khó có thể phai mờ.
  • Hà Nội không chờ tôi lớn
    Ngày đầu tiên đặt chân đến Hà Nội với tư cách một sinh viên, tôi mang theo nhiều thứ hơn một chiếc balo. Trong đó có sự háo hức, một chút tự tin non nớt và rất nhiều bỡ ngỡ. Hà Nội trong trí tưởng tượng của tôi từng là những con phố cổ yên bình, những hàng cây xanh và nhịp sống chậm... rồi tôi thấy mình nhỏ bé giữa một thành phố quá rộng.
  • Những con phố nhớ tên tôi trước kỳ thi cuối cấp
    Năm lớp 12, tôi bắt đầu gắn bó với Hà Nội theo một cách rất khác. Không còn là những chuyến đi chơi ngắn ngày cùng gia đình, không chỉ là phố phường nhìn qua cửa kính xe buýt, Hà Nội bước vào cuộc sống của tôi bằng những buổi sáng vội vàng đến trường, những chiều tan học muộn và cả những tối ôn bài đến mỏi mắt.
  • Những người Hà Nội tôi gặp khi đã quen áp lực
    Khi đã đi làm vài năm, tôi không còn nhìn con người bằng ánh mắt háo hức như thời còn đi học. Những va chạm trong công việc, những áp lực về thời gian, trách nhiệm và hiệu quả khiến tôi trở nên dè dặt hơn trong cách quan sát và đánh giá người khác. Tôi quen với việc giữ khoảng cách, quen với những mối quan hệ vừa đủ, không thân quá cũng không xa quá.
  • Hà Nội - Nơi một buổi sáng khiến tôi muốn ở lại
    Tôi không sinh ra ở Hà Nội. Với tôi, Hà Nội ban đầu chỉ là cái tên xuất hiện trong sách giáo khoa, trong những bài văn mẫu với “mùa thu dịu dàng”, “hồ Gươm xanh biếc” hay “phố cổ rêu phong”. Tôi từng nghĩ, Hà Nội chắc cũng giống những thành phố khác: đông người, nhiều xe, vội vã và có phần xa cách. Nhưng rồi, chỉ trong một buổi sáng rất bình thường, Hà Nội đã khiến tôi thay đổi suy nghĩ ấy.
  • Chợ Gạ quê tôi
    Chợ Gạ một tháng năm phiên/ Ngày ba ngày tám như chuyên đèo bòng/ Thuyền từ xứ Bắc xứ Đông/ Trên song đậu cạnh Bãi Non, Bãi Già... (Ca dao).
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Bản giao hưởng mùa hạ của phố phường Hà Nội
    Tháng Năm chạm ngõ, khi cái nắng đầu hạ bắt đầu trải nhẹ trên từng góc phố, cũng là lúc hoa bằng lăng tím bừng nở, nhuộm một sắc mơ màng khắp các con đường Hà Nội. Không rực rỡ như phượng đỏ, không ngào ngạt như hoa sữa tháng 10, bằng lăng mang một vẻ đẹp dịu dàng như chính nhịp sống của thành phố ngàn năm tuổi.
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Khởi động cuộc thi toàn quốc lan tỏa lối sống xanh và năng động cho học sinh tiểu học
    Trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và công ty Nestlé Việt Nam về xây dựng lối sống năng động, tích cực cho học sinh tiểu học, cuộc thi toàn quốc “Lối sống xanh - Đại sứ năng động bảo vệ môi trường” đã chính thức được phát động với sự đồng hành và phối hợp của Báo Thiếu niên Tiền phong và Nhi đồng.
  • Xây dựng đội ngũ cán bộ Thủ đô đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới
    Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội vừa ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 05/5/2026 về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở nhiệm kỳ 2025 - 2030 và những năm tiếp theo. Nghị quyết thể hiện quyết tâm chính trị cao của Thành phố trong xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, tư duy đổi mới và khả năng kiến tạo phát triển, đáp ứng yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô trong giai đoạn mới.
Đừng bỏ lỡ
  • Bổ sung thủ tục hành chính lĩnh vực Điện ảnh thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội
    Trung tâm phục vụ hành chính công Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 630/QĐ-TTPVHCC về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung lĩnh vực Điện ảnh thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội.
  • [Infographic] Nhiều chương trình hấp dẫn tại Festival Thăng Long-Hà Nội 2026
    Trong nỗ lực khơi dậy nguồn lực văn hóa của Thủ đô, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội tổ chức Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow", dự kiến diễn ra từ ngày 11-20/9/2026 tại nhiều không gian văn hóa - di sản tiêu biểu của Thủ đô.
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
Sơn Đồng - Nơi thổi hồn vào gỗ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO