Lý luận - phê bình

Thơ ca giải phóng miền Nam: Một hình thái đặc thù trên tiến trình văn học 1954 - 1975

Nguyễn Bích Thu 15:11 19/04/2025

Trong bức tranh toàn cảnh thơ ca giai đoạn 1954 - 1975 không thể không kể đến thơ ca giải phóng miền Nam, một bộ phận thơ ở tuyến đầu chống Mỹ ngụy, với một đội ngũ nhà thơ triệt để và đầy bản lĩnh trong quan niệm nghệ thuật: lấy thơ ca làm vũ khí chiến đấu “Thơ là súng là gươm” (Lê Anh Xuân). Có thể nói, đây là quan niệm chung chi phối cảm hứng và tư thế diễn ngôn của văn nghệ sĩ trong văn học giai đoạn chiến tranh và cách mạng.

Nhưng với đội ngũ các cây bút văn nghệ giải phóng nói chung và thơ ca nói riêng, nhiệm vụ này mang đặc thù riêng, bởi họ không chỉ là thi sĩ mà còn là chiến sĩ, trong họ có sự phối trộn hài hòa tư cách, phẩm chất nghệ sĩ và công dân. Nếu ở các địa bàn khác, những người viết trước hết là chiến sĩ như Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh… thì ở địa bàn này, những người viết là những người cầm bút chuyên nghiệp, được trên giao trọng trách trở về miền Nam với sứ mệnh lịch sử đặc biệt. Họ cần xây dựng và phát triển văn học miền Nam, trong tư thế đối đầu, đối mặt với kẻ thù, phản ánh và thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan cường, những tấm gương điển hình trong khí thế đi đầu diệt Mỹ, tố cáo tội ác trời không dung, đất không tha của bè lũ Mỹ ngụy.

Trong giai đoạn 1954-1975, văn học chính thống ở miền Nam là văn học đô thị, với sự tồn tại nhiều khuynh hướng, trong đó có khuynh hướng yêu nước và tiến bộ. Trong khuynh hướng này đã xuất hiện những tác giả thơ nổi tiếng như Trần Quang Long, Ngô Kha, Trần Vàng Sao, Võ Quê… với những dòng thơ cùng chung một “dòng máu anh hùng”, dùng vũ khí thơ ca để tranh đấu, như song hành cùng thơ ca giải phóng:

Con sẽ vót nhọn thơ thành chông
Xuyên vào gan lũ giặc
Con sẽ mài thơ như kiếm sắc
Chặt đầu văn nghệ tay sai
Trả thù cho cha, rửa hờn cho nước
Cho con ngửng đầu nhìn thẳng tương lai
Nếu thơ con bất lực
Con xin nguyện trọn đời
Dùng chính quả tim mình làm trái phá
Sống chết một lần thôi
(Thưa mẹ trái tim - Trần Quang Long)

Thơ ca giải phóng ra đời năm 1961 - năm thành lập Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam nhưng mầm mống của nó đã có khi đất nước tạm chia làm hai miền. Từ trong đêm đen của chế độ Mỹ ngụy đã xuất hiện những tác giả lấy thơ ca thể hiện khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước như Viễn Phương, Giang Nam, Thanh Hải, Chim Trắng… Bên cạnh những tên tuổi từ trong lòng cuộc chiến là các nhà thơ miền Bắc, trong đó có những cây bút tập kết năm 1954, đã trở về miền Nam theo tiếng gọi của quê hương.

“Mặt đất và bầu trời” - Tranh sơn dầu của họa sĩ Ngân Chài.

Những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX và liên tục trong thời gian tiếp theo, hàng loạt nhà văn, nhà thơ tràn đầy nhiệt tình, tâm huyết và năng lực đã từ giã hậu phương miền Bắc lên đường, vượt Trường Sơn vào Nam, góp phần tăng cường lực lượng sáng tác trong đội ngũ các nhà thơ giải phóng: Thu Bồn, Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), Dương Hương Ly (Bùi Minh Quốc), Vũ Ngàn Chi (Phạm Ngọc Cảnh), Nguyễn Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Hoài Vũ, Diệp Minh Tuyền, Nguyễn Khắc Phục, Ngô Thế Oanh, Vũ Ân Thi, Dương Trọng Dật, Lê Quang Trang, Trần Ninh Hồ, Trần Thị Thắng, Hà Phương, Khuynh Diệp… Đó là những cây bút từ miền Bắc chi viện cho văn học giải phóng miền Nam.

Đội ngũ những nhà thơ giải phóng khi đã đặt chân sang bên này vĩ tuyến 17 đã tự nguyện “sống và viết ở chiến trường”, là những “kiểu người viết” biết cách sống và ứng xử sao cho xứng đáng với nhân dân và đất nước trong những thử thách cao nhất của lịch sử, của thời đại. Các sáng tác của họ là những minh chứng thuyết phục nhất cho sự gắn bó máu thịt với đời sống của nhân dân, với cuộc chiến đấu quyết liệt và anh dũng của dân tộc, cho sự hòa quyện, không tách rời giữa ý thức công dân và nghệ sĩ. Họ đã thổi vào thơ ca những cảm xúc nóng hổi, diễn tả và thể hiện một cách thời sự, cập nhật đời sống và con người trong những tình huống, hoàn cảnh thắt ngặt của chiến tranh. Hàng loạt các sáng tác, các tập thơ thời chiến của các cây bút thơ giải phóng ra đời đã mang cái nhìn, cái cảm, cái nghĩ của những người chứng kiến và nếm trải: “Những đồng chí trung kiên” (1962), “Huế mùa xuân” (1970) - Thanh Hải; “Bài ca chim Chơ Rao” (1964), “Tre xanh” (1970), “Mặt đất không quên” (1972) - Thu Bồn; “Trường ca Nguyễn Văn Trỗi” (1968), “Hoa dừa” (1971) - Lê Anh Xuân; “Quê hương” (1962), “Người anh hùng Đồng Tháp” (1965), “Vầng sáng phía chân trời” (1969) - Giang Nam; “Mắt sáng học trò” (1970) – Viễn Phương; “Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ” (1971) - Dương Hương Ly; “Đất ngoại ô” (1973), “Mặt đường khát vọng” (1974) - Nguyễn Khoa Điềm; “Đêm Quảng Trị” (1972) - Vũ Ngàn Chi…

Thơ của các cây bút thơ cách mạng miền Nam là thơ của một đội ngũ gồm nhiều thế hệ thấm nhuần tinh thần và ý chí cộng đồng “không gì quý hơn độc lập tự do”. Một đội ngũ những người đã chứng kiến bao biến động của lịch sử dân tộc, bằng các sáng tác thi ca của mình đã góp phần lưu giữ ký ức của đất nước, của con người một thời đạn lửa. Nổi bật ở đây là tình cảm cuộn dâng mà nghẹn ngào của những đứa con được trở về đất mẹ - quê hương. Nếu không sinh ra trên mảnh đất Quảng Nam, không chứng kiến những đau thương mất mát của quê nhà trong quá khứ, Thu Bồn làm sao viết được những dòng thơ thấm đẫm niềm vui trở về cùng niềm đau trải nghiệm:

Tôi cúi xuống hôn mảnh đất quê hương
Như hôn người yêu sau ngày xa cách
Tôi không khóc nhưng vẫn trào nước mắt
Con đã về đây với mẹ - quê hương…


Đất hỡi đất người vẹn lòng yêu nước
Viên đạn bây giờ cày lên viên đạn năm xưa
Chiếc áo màu xanh dù rách nát
Vẫn hiền hòa đùm bọc mẹ sớm trưa

Tuy không sinh ra trên đất Quảng nhưng Dương Hương Ly (Bùi Minh Quốc) đã tình nguyện sống và viết trên một “vùng trung tâm của cơn lốc mà trải biết về nhân dân và chính mình”. Không phải ngẫu nhiên nhà thơ đã định danh cho mảnh đất Quảng Nam là “mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ”: “Tôi trở về đất mẹ Quảng Nam tôi/ Dẫu chẳng nơi đây cất tiếng chào đời/ Đất Tổ quốc đâu cũng là đất mẹ/ Ôi Tổ quốc mối tình kỳ lạ thế/ Càng trong lửa đạn lại càng tươi”. Trong thơ Lê Anh Xuân, mạch nguồn quê hương được khơi gợi từ tập thơ đầu tay trên đất Bắc “Tiếng gà gáy” càng cuộn xiết, mãnh liệt hơn trên chặng đường trở về Bến Tre “quê nội”: Thơ Lê Anh Xuân là thơ của người nhập cuộc và hành động hết mình. Đó là cuộc dấn thân mong đi tới sự hòa nhập giữa chủ thể trữ tình và khách thể thẩm mỹ: “Ôi quê hương xanh biếc bóng dừa/ Có ngờ đâu hôm nay ta trở lại/ Quê hương ta tất cả vẫn còn đây/ Dù người thân đã ngã xuống đất này”.

Nhập cuộc và hành động, trước hết với Lê Anh Xuân là xác quyết một lẽ sống: “Ta cầm nắm đất cha ông/ Nghe thiêng liêng ngọn lửa hồng trong tay”. Với Nguyễn Khoa Điềm, tình yêu quê hương, ngày trở về quê hương chiến đấu đã kết nối con người trong vòng tay bè bạn, cùng một chí hướng, một đích đến: “Bỗng thấy thương nhau hơn khi vai bạn sát vai mình/ Bẻ củ sắn chia đôi điều giản dị/ Bếp lửa soi một dư vang bền bỉ/ Ôi Trường Sơn đốt lửa mấy năm rồi”. Tình yêu quê hương - quê hương trong tranh đấu kết tinh thành biểu tượng người mẹ: “Đất quê ta mênh mông/ Quân thù không xăm hết được/ Lòng mẹ rộng vô cùng/ Đủ giấu cả hang sư đoàn dưới đất/ Nơi hầm tối là nơi sáng nhất/ Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam”.

Trong tư duy sáng tạo của mình, các nhà thơ giải phóng đã đưa thơ xáp mặt với cuộc sống, đưa chất liệu thực vào cảm hứng và cách diễn đạt của mình. Những chất liệu hiện thực nếu không phải là người trong cuộc sẽ không dễ có những cảm xúc phả vào những trang thơ mà ngày nay đọc lại vẫn không thôi nhắc nhớ về một thời với những “giai điệu tự hào”, đầy trữ tình lãng mạn. Có thể nói, một trong những bài thơ được nhiều người thuộc nằm lòng, được truyền từ thế hệ chống Mỹ đến thế hệ hậu chiến, mang ý nghĩa động viên, vây ấm lòng người là “Bài thơ hạnh phúc” của Dương Hương Ly. Bài thơ với lời đề tặng và tưởng nhớ người bạn đời là nữ nhà văn Dương Thị Xuân Quý (bút danh Dương Thị Minh Hương), người đã gạt nước mắt gửi cô con gái bé bỏng cho bà ngoại để đến với “Trường Sơn nghìn dặm” cùng chồng “nắm tay nhau đi vào cuộc chiến đấu này” và đã hy sinh trên chiến trường Quảng Nam, ở cuối con sông Thu Bồn: “Anh mất em như mất nửa cuộc đời/ Nỗi đau anh không thể nói bằng lời/ Một ngọn lửa thâm trầm âm ỉ cháy/ Những viên đạn quân thù bắn em trong lòng anh sâu xoáy”. Ở đây, cảm xúc của chủ thể trữ tình vượt lên khuôn khổ của một đề tài quen thuộc - nỗi đau mất người yêu, người bạn đời, người đồng nghiệp, đồng đội để mở ra những bình diện khác, những chiều kích khác: vấn đề hạnh phúc, lẽ sống, và hơn hết lẽ sống của người cầm bút trong cuộc ra trận lớn lao của dân tộc: “Em nói đến tương lai tươi thắm ngọt lành/ Em nói tới những điều em định viết/ Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép/ Con sông Giành gầm réo miên man/ Nước lũ về trang giấy nhỏ mưa chan/ Em vẫn viết lòng dạt dào cảm xúc/ Và em gọi đó là hạnh phúc”. Cấu trúc bài thơ kết dính trên một chỉnh thể liền mạch như những con sóng tràn bờ, nối tiếp, nâng đỡ nhau, cái riêng nằm trong cái chung, tạo nên đường viền bối cảnh, làm nổi bật nhân cách một con người - một nữ nhà văn chiến sĩ tiêu biểu trong văn học giai đoạn chống Mỹ cứu nước hào hùng và bi tráng của dân tộc.

Có thể nói, văn học giải phóng nói chung và thơ ca nói riêng là một bộ phận không tách rời, là “dòng riêng” giữa “nguồn chung” của văn học 1954 - 1975. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của các nhà thơ giải phóng gắn với “huyền thoại” về sự dấn thân, nhập cuộc của một đội ngũ văn nghệ sĩ cho cuộc kháng chiến giành độc lập tự do của dân tộc. Một đội ngũ gồm nhiều thế hệ cầm bút đã tự nguyện điều tiết giữa cái tôi và và cái ta, thậm chí vượt lên cái tôi của chính mình, lấy thơ ca làm vũ khí phục vụ các nhiệm vụ chiến lược của non sông, đất nước. Văn nghệ giải phóng, trong đó với sự hiện diện của thơ ca không chỉ có ý nghĩa về phương diện chính trị, đóng góp công sức vào sự nghiệp cách mạng bằng việc phản ánh và thể hiện cuộc sống và con người trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà còn để lại một hình thái tồn tại và phát triển độc đáo, đặc thù. Từ đó mang đến hiệu ứng thẩm mỹ và nhân văn, đóng vai trò quan trọng, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng tiếp nhận không thể không ghi nhận trên tiến trình văn học dân tộc./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba
    Sáng ngày 24/6/2026, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội) đã diễn ra Lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (24/6/1966 - 24/6/2026) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba.
  • Chiều hạ vàng
    Nhắc đến sắc vàng, dễ thường người ta lại nghĩ đến mùa thu, mùa của làn gió heo may với những nắng vàng, lá vàng... đã trở thành những ước lệ kinh điển như thể “con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô” (Lưu Trọng Lư), “Ô! hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông” (Bích Khê)…
  • Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026: Tôn vinh vẻ đẹp văn hóa Việt và lan tỏa hình ảnh Thủ đô ngàn năm văn hiến
    Lễ hội Sen Hà Nội diễn ra từ ngày 26 đến 28/6/2026 tại Vườn hoa Lý Tự Trọng, Không gian Văn hóa sáng tạo Tây Hồ, Vườn hoa Lạc Long Quân và một số địa điểm trên địa bàn phường Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
  • Thành lập Quỹ thưởng  của Thủ đô để tôn vinh, khích lệ những đóng góp đột phá
    Quỹ thưởng của Thủ đô tập trung ưu tiên tôn vinh các đóng góp mang tính đột phá, giải quyết những vấn đề lớn và mang lại giá trị lâu dài cho Thủ đô. Trong đó, trọng tâm hướng vào các lĩnh vực mũi nhọn như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, cùng với phát triển xanh, công nghiệp văn hóa và cải cách hành chính.
  • Bia nội vẫn được ưu ái trong bối cảnh tiêu dùng mới nhờ lợi thế thấu hiểu về văn hóa
    Theo báo cáo của Expert Market Research, quy mô thị trường bia Việt Nam được dự báo đạt khoảng 19,27 tỷ USD vào năm 2035, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) khoảng 6,6% trong giai đoạn 2026-2035. Nhưng song hành với triển vọng đó là một thực tế khác, người tiêu dùng Việt đang ngày càng khắt khe hơn khi lựa chọn bia, từ giá cả, chất lượng, hình ảnh thương hiệu cho đến mức độ phù hợp với từng thời điểm.
Đừng bỏ lỡ
  • Chiếu miễn phí bộ phim tài liệu “Đất tổ quê cha” nhân Ngày Gia đình Việt Nam
    Buổi chiếu phim sẽ chính thức diễn ra vào lúc 15h00, Chủ nhật ngày 28/06/2026 tại Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, số 465 Hoàng Hoa Thám, Ngọc Hà, Hà Nội.
  • Hấp dẫn chuỗi hoạt động tại Lễ hội Sen Hà Nội 2026
    Diễn ra từ ngày 26 đến 28/6 tại nhiều không gian văn hóa quanh hồ Tây, Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026 được tổ chức với nhiều hoạt động đặc sắc nhằm tôn vinh vẻ đẹp của hoa sen trong đời sống văn hóa Việt, quảng bá giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Đồng thời sự kiện giới thiệu những sản phẩm du lịch, văn hóa và sáng tạo gắn với sen tới người dân, du khách trong nước và quốc tế.
  • Ngày văn hóa Việt Nam tại Hà Nội năm 2026: Tôn vinh di sản, khơi nguồn sáng tạo Thủ đô
    “Ngày văn hóa Việt Nam tại Hà Nội” năm 2026 diễn ra từ ngày 21 đến 24/11/2026 tại khu vực hồ Hoàn Kiếm nhằm tôn vinh, quảng bá các giá trị di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội. Lễ khai mạc được tổ chức hoành tráng với quy mô gần 4.000 người tham gia diễu hành hành trình qua 3 chương nghệ thuật đặc sắc. Xuyên suốt bốn ngày hội, công chúng sẽ được hòa mình vào không gian nghệ thuật đa sắc màu tại ba sân khấu phụ và mãn nhãn với màn trình diễn ánh sáng công nghệ 3D mapping tại Tháp Rùa. Bên cạnh đó, hệ thống triển lãm ứng dụng công nghệ thực tế ảo cùng các khu vực ẩm thực, mua sắm...
  • Màu thời gian
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Màu thời gian của tác giả Nguyễn Đình Xuân.
  • Nhà hát Hồ Gươm đón dàn nghệ sĩ quốc tế danh tiếng trong đêm nhạc "Frozen Fire"
    Vào tối ngày 26/6, tại Nhà hát Hồ Gươm sẽ diễn ra chương trình hòa nhạc đặc biệt mang tên "Frozen Fire". Đêm diễn quy tụ những tên tuổi nghệ sĩ quốc tế danh tiếng, nổi bật là nhạc trưởng người Phần Lan Kalle Kuusava cùng nữ nghệ sĩ violin tài năng Sara Dragan đến từ Ba Lan, kết hợp với các nghệ sĩ tài hoa của Dàn nhạc Giao hưởng Hà Nội (Hanoi Philharmonic Orchestra). Đây là cơ hội hiếm có để công chúng yêu nhạc cổ điển Thủ đô trực tiếp thưởng lãm những kiệt tác giao hưởng kinh điển của châu Âu cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ngay trên sân khấu hiện đại bậc nhất Việt Nam.
  • Hà Nội ban hành Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô
    Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô Hà Nội vừa chính thức ban hành Quy chế làm việc, tạo cơ sở để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối và giám sát việc triển khai các chủ trương, nhiệm vụ phát triển văn hóa trên địa bàn Thành phố; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng và phát triển văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Xã Hồng Vân phổ biến Luật Thủ đô năm 2026 tới cán bộ, Nhân dân
    Nhằm lan tỏa các nội dung của Luật Thủ đô năm 2026, UBND xã Hồng Vân (TP Hà Nội) đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến, tập huấn và bồi dưỡng Luật Thủ đô năm 2026 và các văn bản hướng dẫn thi hành tới các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động các cơ quan, đơn vị, đại diện các thôn, tổ dân phố trên địa bàn xã.
  • Nhìn lại một thời của Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn
    Ngày 20/6, tại Hà Nội đã diễn ra tọa đàm nghệ thuật “Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn trước năm 1975: Một thời nhớ lại” do A&V Foundation tổ chức. Thông qua những chia sẻ của họa sĩ Trịnh Cung cùng phần trao đổi với nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng và các khách mời, tọa đàm đã góp phần nhận diện rõ hơn quá trình hình thành, phát triển của Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn cũng như những giá trị nghệ thuật mà thế hệ họa sĩ này để lại cho mỹ thuật Việt Nam.
  • Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt
    Chiều 20/6/2026, NXB Kim Đồng phối hợp cùng Học viện đào tạo Truyện tranh Comicola Academy và Cộng đồng họa sĩ truyện tranh Việt Nam PunkgaMe tổ chức tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt” và workshop “Quy trình chuyển thể tác phẩm văn học sang truyện tranh”. Tham dự sự kiện có đông đảo biên tập viên, họa sĩ chuyên nghiệp, các bạn trẻ đam mê sáng tác truyện tranh và độc giả yêu thích truyện tranh.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Như là huyền thoại (Kỳ 2)
    Trong nhóm kỹ thuật được lãnh đạo sở địa chất quyết định cho đi khảo sát vùng đất địa đầu Tổ quốc có ba người. Nhận nhiệm vụ, xuất hành từ phố cổ Phạm Ngũ Lão, gần nhà Bác Cổ rồi đi qua cầu Long Biên là ngược chiều lên phía Bắc. Đi tới bốn ngày đường, ba chàng địa chất mới tới phố núi Hà Giang...
Thơ ca giải phóng miền Nam: Một hình thái đặc thù trên tiến trình văn học 1954 - 1975
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO