(Thông điệp từ lịch sử)Trí thức Việt Nam với công cuộc “tự khai hóa” những năm đầu thế kỷ XX

KTĐT| 06/12/2021 08:37

Từ giữa thế kỷ XIX, với những biến động xã hội do sự xâm lăng của thực dân Pháp, tầng lớp trí thức Việt Nam đã có nhiều thay đổi từ thành phần xuất thân, con đường học tập, trưởng thành, nhất là tư tưởng, ý thức dân tộc và cách hành động. Họ là lực lượng tinh hoa mở đường canh tân văn hóa những năm đầu thế kỷ XX.

“Cựu học” và “tân học”
Trước hết cần khẳng định tầng lớp trí thức Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX có sự hình thành đa dạng hơn và đời sống tinh thần, tư tưởng phong phú hơn, mới mẻ hơn.Bộ phận thứ nhất là trí thức “cựu học”. Đó là các nho sĩ đã từng học tập, đỗ đạt theo hệ thống giáo dục Nho giáo. Theo truyền thống, một bộ phận lớn những nho sĩ đỗ đạt tham gia vào bộ máy nhà nước phong kiến với chức vụ và địa vị khác nhau. Tuy nhiên, cũng có nhiều người đỗ đạt nhưng không ra làm quan. Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Cầu, Trần Quý Cáp…Một số người đỗ đạt ra làm quan nhưng sau từ bỏ để hoạt động yêu nước, tham gia cuộc vận động duy tân như Đào Nguyên Phổ, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Đặng Nguyên Cẩn, Nguyễn Quyền…Trong bộ phận này cũng có nhiều nho sĩ đã tiếp nhận kiến thức tân học, biết chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và nhiều kiến thức của nền giáo dục mới - tân học như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ… Cũng có một số người đã đỗ đạt Hán học nhưng sau sang Pháp học tiếp như Bùi Kỷ.
Bộ phận thứ hai là “Trí thức Tân/ Tây học” mới được đào tạo từ hệ thống giáo dục thuộc địa ở Đông Dương hoặc từ các trường tại Pháp. Có thể kể đến một số nhân vật tiêu biểu như Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Trần Trọng Kim, Phạm Duy Tốn, Nguyễn An Ninh, Trần Chánh Chiếu, Lê Văn Miến, Hoàng Trọng Phu... Một bộ phận khác là tự học theo hướng Tây học theo nhiều cách khác nhau như Nguyễn Ái Quốc (ở nước ngoài), Trần Huy Liệu (ở trong nước). Đội ngũ này bắt đầu thể hiện vai trò của mình trong những năm đầu thế kỷ XX và sẽ chiếm lĩnh vị trí dẫn dắt hầu hết các cuộc vận động xã hội và văn hóa ở Việt Nam cho đến những năm giữa thế kỷ XX.Thành phần xuất thân, con đường học vấn, môi trường giáo dục có thể khác nhau nhưng đa phần trí thức Việt Nam, dù là “cựu học” hay “tân học”, đều có tinh thần yêu nước và có khát vọng giành độc lập dân tộc, đều nhiệt thành cống hiến cho công cuộc duy tân văn hóa, chấn hưng đất nước những năm đầu thế kỷ XX.Tiên phong “tự khai hóa”Văn hóa Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đứng trước tình trạng bị đứt gãy truyền thống. Trước hết là văn hóa chính trị, khi mà hệ tư tưởng phong kiến, thể chế quân chủ đã lỗi thời và các hệ tư tưởng mới, tiến bộ hơn, và thể chế dân chủ chưa được thiết lập. Thay vào đó là một chế độ thực dân - phong kiến; độc lập dân tộc không còn, người dân chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Xã hội rơi vào tình trạng khủng hoảng, văn hóa giáo dục ngày càng hủ lậu, lạc hậu không thể làm nền tảng cho công cuộc giành độc lập. Tìm con đường đi cho dân tộc trở nên bức thiết nhất vào lúc này. Giới trí thức yêu nước đã có những lựa chọn khác nhau với hai ngọn cờ, hai nhà đại ái quốc là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh.Phan Bội Châu là một trí thức Nho học, đỗ đạt nhưng không ra làm quan mà tìm đường cứu nước. Cựu học nhưng ông sớm tiếp thu tân thư, tân văn theo tư tưởng cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (Trung Quốc) và Minh Trị duy tân (Nhật Bản). Ông chủ trương bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp xây dựng lại nền quân chủ. Điều đó có nghĩa là ông vẫn chưa thoát ly được hệ tư tưởng phong kiến. Để tổ chức lực lượng cho công cuộc này, năm 1904, ông và Nguyễn Hàm thành lập Hội Duy Tân, dựng Cường Để là hoàng thân nhà Nguyễn làm minh chủ. Hội Duy Tân hướng đến sự giúp đỡ của Nhật Bản để chống Pháp. Phong trào Đông du do ông khởi xướng và lãnh đạo nhanh chóng thất bại vì chính quyền Nhật Bản thỏa hiệp với người Pháp trục xuất toàn bộ du học sinh Việt Nam. Sau đó, Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang phục hội. Ông thay đổi tôn chỉ từ chủ nghĩa quân chủ sang chủ nghĩa dân chủ để đánh đuổi quân Pháp, “thành lập nước Cộng hòa Dân quốc kiến lập Việt Nam”, nhưng vẫn chủ trương bạo động. Tuy nhiên, ông cũng thấy rõ vai trò của duy tân văn hóa, giáo dục khi đã chủ trương Đông du và cùng Phan Chu Trinh cổ vũ và bàn bạc với các sĩ phu về việc thành lập Đông Kinh nghĩa thục.Cùng tư tưởng, cùng chí hướng với Phan Bội Châu còn có nhiều trí thức “cựu học” như Nguyễn Hàm, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Nguyễn Thượng Hiền, Tăng Bạt Hổ… và khá đông đảo thanh niên yêu nước.Cũng xuất thân là trí thức Nho học, cũng sang Trung Quốc, sang Nhật Bản, tiếp kiến các nhà tư tưởng duy tân Trung Quốc và Nhật Bản, đọc tân thư, tân văn của họ nhưng Phan Chu Trinh lại lựa chọn con đường khác. Ông chủ trương bất bạo động và hướng đến tự chủ, tự lực, tự cường bằng con đường văn hóa và giáo dục; “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” để giành lại độc lập và “làm mới dân tộc”. Dân tộc mới mà ông hướng đến là một thể chế mới, thể chế dân chủ tư sản, một kiểu nhà nước hiện đại và tiến bộ nhất lúc bấy giờ. Ông còn khác Phan Bội Châu ở chỗ, nếu Phan Bội Châu trông chờ sự giúp đỡ của Nhật Bản thì ông lại tận dụng các chính sách cải cách giáo dục của người Pháp ở Đông Dương, đặc biệt là tiếp nhận các tiến bộ về văn hóa, văn minh, khoa học kỹ thuật của phương Tây, kêu gọi sự hỗ trợ của người Pháp để chấn hưng nền văn hóa - giáo dục của đất nước, xây dựng sức mạnh nội sinh của nền văn hóa, của dân tộc để giành độc lập khi thời cơ đến.Cùng chia sẻ và hưởng ứng tư tưởng của Phan Chu Trinh có đông đảo tầng lớp trí thức, cả “cựu học” và “tân học”. Phong trào Duy tân do ông và các đồng chí phát động là cuộc vận động nhằm thay đổi nền văn hóa - giáo dục dân tộc theo hướng hiện đại.Sau khi bàn bạc với Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, năm 1907, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Hữu Cầu, Dương Bá Trạc, Lê Đại, Đặng Kinh Luân và các đồng chí của mình, đã thành lập Đông Kinh nghĩa thục. Trường còn có sự tham gia của nhiều trí thức tân học như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học… Đông Kinh nghĩa thục là mô hình giáo dục mới với công cụ mới là chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ và các kiến thức khoa học hiện đại đã khai tử nền giáo dục Nho học đã lỗi thời và bắt đầu mở ra một kỷ nguyên mới của văn hóa, giáo dục dân tộc. Đông Kinh nghĩa thục không chỉ dạy chữ, dạy văn chương mà dạy cả kiến thức khoa học mới, hiện đại; Dạy cả bài trừ hủ tục và xây dựng nếp sống mới.Không dừng lại ở mô hình trường nghĩa thục, tư thục, các nhà duy tân còn tổ chức thực hành các mô hình làm ăn mới như mở hiệu buôn, thành lập công ty sản xuất, buôn bán.Những năm đầu thế kỷ XX, báo chí Quốc ngữ không còn “cát cứ” ở Nam Kỳ mà lan ra miền Bắc. Đại Việt tân báo, Đông cổ tùng báo (1907) đến Đông Dương tạp chí (1913), Nam Phong (1917)… xuất bản ở Hà Nội gắn liền với vai trò của các nhà sáng lập Đông Kinh nghĩa thục, với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh... và các trí thức tân học.Song hành cùng báo báo chí, về văn học có bước phát triển mới, đã có tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu (1912), Ai làm được của Hồ Biểu Chánh (1912) và các tiểu thuyết khác của Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Bân, Đặng Trần Phất, Huỳnh Thị Bảo Hòa… Nhiều tác phẩm văn học nước ngoài được dịch sang Quốc ngữ.Duy tân là con đường để tiếp cận, du nhập các lĩnh vực, các thể loại, hệ hình sáng tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật mới như kịch nói, hội họa, nhiếp ảnh… của phương Tây với nhiều giá trị mới; tinh thần nhân văn, nhân bản được đề cao, các giá trị phổ quát được thừa nhận và đi vào cuộc sống. Đó cũng là con đường để tầng lớp trí thức giáo dục ý thức dân tộc, truyền bá tư tưởng cứu nước và chấn hưng dân tộc theo kiểu mới.
Công cuộc duy tân văn hóa - giáo dục những năm đầu thế kỷ XX đúng là một cuộc “tự khai hóa” mà người dẫn đường không ai khác là các trí thức yêu nước. Công nghiệp này cho đến nay vẫn còn những bài học cho sự nghiệp chấn hưng văn hóa hiện nay, đặc biệt là cách ứng xử và phát huy vai trò tầng lớp trí thức.
Bài liên quan
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Hà Nội thông qua chủ trương đầu tư Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng
    Sáng 11/5, tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề), HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • Kế hoạch tuyển sinh lớp 10, lớp 6, lớp 1 và mầm non tại Hà Nội
    Ban Chỉ đạo thi, tuyển sinh Thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch 01/KH-BCĐ về việc tổ chức thi, tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông và tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp 1, lớp 6 thành phố Hà Nội năm học 2026-2027.
Đừng bỏ lỡ
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
(Thông điệp từ lịch sử)Trí thức Việt Nam với công cuộc “tự khai hóa” những năm đầu thế kỷ XX
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO