Lý luận - phê bình

Tiên nữ trong mỹ thuật Việt từ cách tiếp cận liên ngành

PGS.TS Trần Thị An 14/08/2023 20:56

Tiên, trong cuộc sống hằng ngày của người Việt Nam, là một danh từ nhưng tồn tại như một tính từ chỉ đẳng cấp cao: “đẹp như tiên", “sướng như tiên”, “tiên cảnh”, “tiên giới”...

Khi là một danh từ đơn thuần, tiên chỉ những người có phẩm chất siêu việt, nếu là ông tiên thì đó là người tốt bụng, có năng lực siêu phàm cứu người khỏi những tình cảnh ngặt nghèo; nếu là cô tiên thì xinh đẹp tuyệt trần, chẳng những có thể đi mây về gió mà còn giúp người ta vượt vòng tục lụy tới cõi thanh tao.

Người Việt Nam hẳn không xa lạ với nàng Giáng Hương vô tình mắc lỗi trong hội hoa mẫu đơn, rồi vì trả cái ơn cứu mạng của Từ Thức mà khiến chàng lạc bước tới chồn bồng lại rồi thành ra lạc lõng khi về lại cõi trần. Càng in đậm hơn trong tâm khảm người Việt Nam là bà mẹ Âu Cơ thuộc giống tiên đã sánh đôi với Lạc Long Quân giống rồng, hoài thai và sinh hạ bọc trăm trứng tạo nên tổ tiên người Việt. Thời gian thao thiết trôi, lịch sử chứng kiến bao cuộc thăng trầm, văn chương cũng theo thời thế mà kiến tạo nên thế giới nghệ thuật của mình. Trong các thời khắc tao loạn của thế kỷ XVI trở đi trong lịch sử Việt Nam, sự xuất hiện truyện truyền kỳ với những khát khao lánh cõi trần nhiễu nhương rồi trốn vào một thế giới tốt đẹp là cõi tiên, thoát những nhọc nhằn kiếp người rồi trốn vào giấc mơ về hình thể thanh thoát vô ưu của kiếp tiên nơi thượng giới. Tiên là không có thật nhưng giấc mơ là có thật, và bởi giấc mơ đau đáu nên tiên cũng trở thành một thực thể như có thật.

tien-nu-1.jpg
Tiên rối nước - Ảnh: Nguyễn Bá Ngọc

Và rồi thực thể đó, đã được hiện hữu trong các đồ án điêu khắc ở không gian thiêng là đình làng Việt - một loại văn bản kén người tạo tác, và đương nhiên, kén cả người đọc. Thật may mắn, nhóm người đọc Trần Hậu Yên Thế, Trần Trung Hiếu, Lê Thị Liễu, Trần May, với một sự đam mê đầy cẩn trọng, đã đọc kỹ các đồ án điêu khắc có hình ảnh tiên ở đình làng Việt các thế kỷ XVI, XVII, XVIII và giới thiệu với cộng đồng người đọc trong cuốn chuyển khảo này.

Chọn trọng tâm là các đồ án điêu khắc có hình ảnh tiên nữ trong đình làng Việt thế kỷ XVI, XVII, XIII, Trần Hậu Yên Thế và các cộng sự đưa người đọc đi xa, nhìn rộng, nghĩ sâu và liên tưởng bao quát về vấn đề đang bàn.

Đi xa, nhóm tác giả dẫn người đọc đi theo trục tuyến tính thời gian, khi mà cặp hình tượng Cha Rồng - Mẹ Tiên đi vào chính sử, từ đó, lần theo các dấu ấn của văn hóa vật thể in hình qua dâu bé thời gian bởi “không phải câu chuyện huyền sử dẹp để nào của dân tộc cũng được thị giác hóa, được cụ thể, được in dấu lên đá, lên gỗ" (tr.8). Theo trục thời gian này, nhóm tác giả chỉ cho người đọc thời điểm xuất hiện của những bức chạm Rồng Tiên vào thời Mạc, sự phát triển nở rộ trong khoảng 3 thế kỷ XVI, XVII, XVIII và sự lụi tàn vào thế kỷ XIX rồi hồi sinh trở lại vào cuối thế kỷ XX trong những chất liệu đa dạng khác.

tien-nu-2.jpg
Bìa sách "Tiên nữ trong mỹ thuật Việt".

Nhìn rộng, nhóm tác giả mở tầm mắt người đọc tới sự xuất hiện của hình ảnh tiên trong văn hóa Ấn Độ (tiên ông Rishi, tiền nữ Apsara); trong văn hóa Trung Hoa (mà tâm điểm là ở Đạo giáo), trong thần thoại và văn hóa châu Âu (mà ví dụ về các nàng tiên cá với giọng hát mê hoặc và ma lực quyến rũ khiến bao thủy thủ cùng Odysseus khi đi qua vùng biển nọ. phải nhét sáp ong vào tại và trái mình vào cột thuyền buồm để tránh xa cám dỗ đã in đậm vào mọi người đọc từ thuở ấu thơ), từ đó tập trung vào hình ảnh tiên nữ trong mỹ thuật Đông Tây. Các tác giả đã thể hiện một sở kiến rộng rãi trên tinh thần lao động nghiêm túc trong việc giới thiệu một cách bao quát về khối lượng tranh tượng khổng lồ trong văn hóa Hy. La từ những manh nha ở thế kỷ tới sự bùng nổ trong thời Phục Hưng, sự phát triển trong các nhánh riêng như dòng tranh cổ tích ở Italia, Anh, Ba Tư và những tương đồng và khác biệt về chủ đề này trong mỹ thuật phương Đông mà các bức phù điêu về Apsara trong mỹ thuật Ấn Độ (thế kỷ X-XI), trong ngôi đền nổi tiếng, di sản văn hóa thế giới Borobudur của người Indonesia, các bức phù điêu bằng đá ở các ngôi đền Angkor của Cambodia, ở các bích họa . trong hang đá Mạc Cao ở Đôn Hoàng mà sự hoà nhập hình ảnh Phi Thiên của Phật giáo và Đạo giáo đã làm nên tính độc nhất vô nhị của di sản văn hóa thế giới này.

Nghĩ sâu, Trần Hậu Yên Thế và nhóm tác giả chia sẻ với người đọc những suy nghĩ của mình về các căn cứ nền tảng như lý thuyết archétype (mà nhóm tác giả dịch là mẫu siêu nguyên) được hình thành từ vô thức tập thể của C. Jung, lý thuyết sáng tạo truyền thống (irvented traditions) của Eric Hobsbawm, hay thuyết "Những cộng đồng tưởng tượng" (ImaginedCommunities) của Benedict Anderson cho tới thuyết “Dân tộc biểu tượng luận” (Ethnosymbolism) của Anthony D. Smith, những biểu hiện mạnh nha của sự hình thành chủ nghĩa dân tộc, sự chi phối của diễn ngôn quyền lực, sự tiếp thu các ảnh hưởng của giao lưu quốc tế, sự thăng trầm của ảnh hưởng Nho giáo trong việc kiến tạo nên các huyền thoại tộc người, việc văn bản hóa chúng trong các thư tịch mang tính chính thống - mà các tác giả đánh giá là “tờ giấy khai sinh hợp pháp của triều đình phong kiến Việt Nam" cho hình tượng Rồng Tiên trong mỹ thuật. Từ đây, nhóm tác giả dẫn người đọc tới các tầng văn hoá-nhận thức-triết mỹ của việc kiến tạo, giải hủy, tái kiến tạo hình tượng tiên mà sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp ở bề mặt của các di sản vật thể mang tính thị giác chỉ là bề nổi của hàng loạt các động thái lịch sử - chính trị - văn hóa miền tục trong thời gian và không gian của nhân loại.

Để có cái nhìn bao quát, nhóm tác giả đã trình hiện trên trang giấy chuyên khảo những kiến thức liên văn hóa mà các dữ liệu về văn học dân gian (truyện “Từ Thức”, truyện “Ả Chức - chàng Ngưu”), văn học thành văn (“Bích câu kỳ ngộ”, “Văn Cát thần nữ”), về nghệ thuật biểu diễn (rối nước, múa trong lễ hội, trong hát Ca trù) và nghệ thuật tạo hình. Từ cái nền liên văn hóa, cuốn chuyên khảo đi sâu giới thiệu các đồ án tiên nữ trong chùa, tháp, đền, miếu; sự tương đồng giữa hình tượng tiên nữ ở đình, chùa, đền, miếu ở đề tài, hình thức thể hiện, phong cách tạo hình và trang phục mà qua đó, nhóm tác giả gợi ra những suy nghĩ về cơ tầng văn hóa truyền thống và sâu xa hơn là mẫu gốc mà “vô thức cộng đồng” tạo ra trong lịch sử.

Đi xa để về gần, đào sâu để hiểu thêm tầng bề mặt, nghĩ rộng để hiểu kỹ hơn những gì trong phạm vi hẹp, bao quát để tường minh cái cụ thể, chuyên khảo đưa người đọc tới cái nhìn cận cảnh về hình tượng tiên nữ trong chạm khắc đình làng Việt, tập trung ở các ngôi đình tiêu biểu: Tây Đằng và Thụy Phiêu (Hà Nội), Phù Lưu (Bắc Ninh), Lỗ Hạnh và Thổ Hà (Bắc Giang)... Bằng cái nhìn học thuật chuyên sâu về mỹ thuật, từ đam mê vô bờ bến đối với di sản điêu khắc của dân tộc, cùng với sự cảm nhận tinh tế và sự giản dị mà trau chuốt của ngôn từ thể hiện, chuyên khảo dường như đã làm sống lại những khát khao muốn gửi gắm, những đam mê bất tận và sự thăng hoa bừng sáng của các điêu khắc gia dân gian khi đặt những đường chạm của bàn tay tài hoa vào thớ gỗ cách đây tới 5 thế kỷ. Những khuôn mặt trái xoan, những ngắn cổ cao thanh thoát, những đôi tay trần, những ngón tay búp măng, những vạt áo dài khăn, váy dài hay váy đụp, xiêm y kín đáo hoặc trễ nải, có cánh hoặc không cánh... đều được tạc trong thể động của hình khối và đường nét, trong sự hài hòa của các đẹp và cái hợp lý vừa tạo ấn tượng thị giác mạnh mẽ, vừa tạo ấn tượng cảm xúc sâu đậm cho người xem như những nhân vật có hồn vía, có bản sắc. Bởi thực ra, đó chính là hóa thân của các cô thôn nữ Việt Nam “thắt đáy lưng ong”, “miệng cười như thế hoa ngâu” mà ca dao đã lưu lại bằng ngôn từ.

Trên nền chung của đồ án điều khắc tiên nữ trong không gian văn hóa đình làng Bắc Bộ, đồ án “Tiên nữ cưới rồng" được đặc biệt chú ý. Hình tượng tiên trong đồ án này vừa mang dáng dấp của các thôn nữ trong cuộc sống đời thường, vừa là sự phóng khoáng, cách điệu của việc thể hiện cái đẹp của người phụ nữ trong sự phá dỡ các khuôn mẫu và định kiến về giới do sự bớt hà khắc của quan niệm Nho giáo và nhờ ảnh hưởng bởi sự tiếp xúc với thế giới phương Tây xứng đáng là biểu tượng tinh hoa của mỹ thuật Việt Nam. Việc gây kinh ngạc khi giới thiệu đồ án này ra nước ngoài đã là một minh chứng sinh động cho điều đó.

Cũng như lịch sử không phải là đã qua, di sản cũng không chỉ là câu chuyện của quá khứ, di sản đã được sống lại trong sự tái kiến tạo truyền thống như một mạch nguồn không bao giờ dừng lại. Việc họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm với sự tái khởi động các đồ án hình tượng tiên trong sáng tác của ông ở thập niên 60 của thế kỷ XX sau nhiều thế kỷ đứt đoạn đã khơi nguồn cho sự tiếp nối sáng tạo của nhiều thế hệ hoạ sĩ Việt Nam; sự hóa thân hình ảnh các nàng tiến vào các cánh diều ở trời Âu sau triển lãm “Rồng Tiên trên chạm khắc đình làng ở Việt Nam” tại Paris (9/2012) là những ví dụ cho sự tái sinh miên tục của truyền thống trong các chiều kích không - thời gian đương đại.

Cũng như vậy, sự đọc của nhóm tác giả cuốn "Tiên nữ trong mỹ thuật Việt" với những dẫn liệu hình ảnh phong phú, với những cảm nhận tinh và phân tích sâu từ góc độ liên ngành, không thể khác, là những bước tiếp trên dặm dài thời gian để lưu giữ, nuôi sống và làm mới bản sắc Việt trong một tình yêu đậm sâu và niềm tự hào vô bờ bến của con dân nước Việt./.

Bài liên quan
  • Thi nhân xứ Đoài trong không gian văn hóa kinh kỳ
    Xứ Đoài thuộc không gian địa lý Sơn Tây, là vùng trọng yếu của Thăng Long xưa - Hà Nội nay và cũng là vùng “địa linh nhân kiệt” với nhiều danh nhân kỳ hùng, mang nhiều dấu ấn văn hóa đặc sắc, có truyền thống lâu đời.
(0) Bình luận
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải lưu vực S3, nhà máy xử lý nước thải Phú Đô
    Tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề) ngày 11/5, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom nước thải cho lưu vực S3 tại các phường Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Yên Hòa, Phú Diễn, Từ Liêm, Đại Mỗ và Nhà máy xử lý nước thải Phú Đô, Thành phố Hà Nội, theo hình thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT).
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Quốc lộ 1A lên 90m
    Dự án trục không gian Quốc lộ 1A có chiều dài khoảng 36,3km, đoạn từ đường Vành đai 1 đến nút giao Cầu Giẽ, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 162.000 tỷ đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
Tiên nữ trong mỹ thuật Việt từ cách tiếp cận liên ngành
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO