Hà Nội xưa - nay

Ghi chép của Lê Quý Đôn về một số di tích ở kinh thành Thăng Long - Hà Nội

ThS. Nguyễn Thị Tô Hoài 19:54 24/06/2024

Nhà bác học Lê Quý Đôn sinh thành đến nay đã gần tròn 300 năm. Kể từ khi ông còn thơ ấu cho đến hiện tại, người đời vẫn thường dùng nhiều mỹ từ để ca tụng ông như: thần đồng đất Việt, nhà bác học kiệt xuất, “tập đại thành” lớn của dân tộc Việt Nam… Các nghiên cứu về Lê Quý Đôn cũng luôn ghi nhận công lao đóng góp của ông trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt là Lê Quý Đôn đã để lại cho đời cả một lâu đài văn hóa và khoa học vô cùng quý báu.

den-bach-ma.jpg
Đền Bạch Mã
den-duc-thanh-ca.jpg
Đền Đức Thánh Cả

Trong tất cả các trước tác của Lê Quý Đôn, ông luôn khẳng định, đề cao văn hóa dân tộc và tự hào về nền văn hiến nước nhà. Rất nhiều tác phẩm của ông đã dành để mô tả cảnh đẹp quê hương đất nước, sản vật, phong tục tập quán… của các địa phương. Trong “Kiến văn tiểu lục”, ông dành hẳn một phần có tiêu đề là “Linh tích” để chép về sự tích những vị thần được thờ ở các đền miếu thuộc nhiều địa phương. Trên địa bàn Hà Nội ngày nay, ông đã mô tả khá chi tiết về sự tích của các vị thần được thờ ở một số di tích. Xin được dẫn chứng về 3 di tích đã được Lê Quý Đôn ghi trong mục “Linh tích” như sau:

1. “Miếu thờ Quảng Lợi linh hựu uy tế phu ứng đại vương ở bên cạnh chợ Cửa Đông thuộc Trung Đô (tức Hà Nội ngày nay). Trong U linh tập nói: Cao Vương xây dựng xong La Thành, một hôm đi đến Cửa Đông thành, chợt thấy năm khí sắc từ dưới đất vọt lên, trong ấy có người tiên mặc áo mũ như sáng mây, cưỡi rồng cầm giản điệp, phút chốc thì biến mất. Cao Vương lấy làm kì dị. Đêm nằm mộng thấy thần nhân bảo rằng: “Ta đây là thần vượng khí ở Long Đỗ”, thấy ông mới mở đô phủ nên mừng mà hiển hiện”. Cao Vương đem việc ấy nói rõ cho thuộc hạ biết, có người xin yểm trừ đi, bèn đem một ngàn cân vừa đồng vừa sắt chôn ở chỗ ấy. Chôn được một lát thì mưa gió nổi lên, đồng và sắt đều bật ra cả. Cao Vương lấy làm sợ hãi. Đến thời Thái Tông nhà Lý, mới đóng kinh đô ở Thăng Long, người bốn phương lũ lượt kéo đến, họp tập buôn bán, cùng nhau mở chợ Cửa Đông, lập đàn tràng đại hội sát liền ngay đền thờ thần, họ khởi công xây dựng nhà cửa suốt cả một phố dài, chỉ để một gian làm chỗ thờ. Chợt lúc ấy gió bấc nổi lên rất dữ, trốc cây, bay đá, một dãy nhà cửa hết thảy đổ sụp, chỉ có đền thờ vẫn trơ trơ như cũ, nhà vua nghe được việc này lấy làm kinh dị, xét hỏi duyên do, rồi sửa lễ tế tạ, hạ chiếu phong thần là Quảng Lợi vương. Hằng năm cứ đầu mùa xuân, làm lễ kì phước ở đền này. Hồi triều nhà Trần, chợ Cửa Đông ba lần thất hỏa, lửa cháy lan ra phố xá rất nhiều, duy đền thờ thần không bị tổn hại mảy may nào cả. Các triều vua đề gia phong tôn hiệu.” (Trích trong: Lê Quý Đôn toàn tập, tập 2, “Kiến văn tiểu lục”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 431 - 432).

tac-pham-kien-van-tieu-luc-cua-le-quy-don.jpg
Tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn

Ngôi miếu mà Lê Quý Đôn nhắc đến chính là ngôi đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, tọa lạc ở số 76 phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội ngày nay. Đền Bạch Mã xưa nay vẫn được xem là trấn phía Đông (một trong 4 trấn Đông - Tây - Nam - Bắc) của kinh thành Thăng Long, Hà Nội.

Trong các di tích thuộc “Tứ trấn” ở Hà Nội thì đền Bạch Mã được xây dựng sớm hơn cả và đã có mặt từ thời Lý - Trần, được khẳng định qua chi tiết được nhiều sách cổ nhắc đến: khi đắp thành Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã cho người cầu khẩn ở đền Long Đỗ. Hệ thống bia đá hiện còn tại di tích cho biết đền được mở rộng vào thời Lê, niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705). Năm Minh Mệnh nguyên niên (1820), đền được tu bổ. Năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), đền được sửa lại, dựng riêng văn chỉ ở bên trái, xây thêm phương đình ở phía trước đền để làm nơi cúng lễ trong các ngày tuần tiết. Đền được công nhận là di tích Lịch sử - Văn hóa năm 1986.

Tồn tại ngay trong lòng phố cổ với nhiều màu sắc, yếu tố nghệ thuật cùng một hệ thống truyền thuyết đầy tính lịch sử và linh thiêng về vị thần được thờ, đền Bạch Mã và Quảng Lợi vương được Lê Quý Đôn nhắc đến trong mục “Linh tích” trước sau vẫn giữ nguyên giá trị về một mốc giới linh thiêng của kinh thành Thăng Long nghìn năm văn hiến.

2. “Đền thờ Chiêu Ứng phù vận đại vương và Thuận Chính Phương Dung công chúa, hai phường Yên Thái và Bát Ân huyện Quảng Đức (nay là khu Ba Đình, Thành phố Hà Nội) cùng phụng sự. Tương truyền thần là vợ chồng Vũ Phục, người triều nhà Lý. Vũ Phục tên tự là Phúc Thiện người hương Minh Bạo, lộ Quốc Oai, làm nghề bán dầu. Lúc ấy vua nhà Lý bị đau mắt, thuốc chữa không khỏi, nghe nói ở vùng núi Vân Mộng huyện Kim Bảng có Quỷ Cốc tiên sinh, là người sở trường về nghề bói dịch, bèn sai người đến bói. Tiên sinh nói: “Trong quẻ này hình như có tượng vua chúa, vì bệ hạ định kinh đô, xếp đặt lại vị trí kinh thành, nên nước vỡ vào phương Kiền, làm cho sức soi dáng của con mắt bị thương tổn, nếu biết trấn yểm, sẽ có thể giữ được yên lành”. Lúc ấy nước sông Cái chảy xoáy, sắp pháp vỡ góc thành Thăng Long, phòng bị sang hộ khó có thể cứu được. Nhà vua liền sai xá nhân tắm gội trai khiết, đến ngã ba sông, cầu đảo thần thổ địa, thần hà bá và tiên cung. Xá nhân đêm nằm mộng thấy thần nhân hình dung rất kì dị, nghi vệ rất trang nghiêm bảo rằng: “Sáng sớm ngày nào đó, hễ thấy người nào đến bến sông này trước nhất, thì nên theo ý muốn của người ta mà tiếp đãi một cách đầy đủ, rồi quẳng người ấy xuống sông và phong cho làm thần, lập miếu thờ tự, mới có thể trấn áp được”. Xá nhân tỉnh dậy, về triều tâu bày, nhà vua rất lấy làm than thở nghi ngờ, liền sai xá nhân theo nhật kì đi đón. Ngày hôm ấy, trời vừa mới sáng, quả nhiên thấy vợ chồng Vũ Phục gánh dầu từ hương Minh Bạo đi đến. Xá nhân đón mời lưu lại, rồi phi ngựa về Kinh tâu bày, nhà vua có ý thương xót, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: “Nên theo lời nói của thần, đem tình thật hiểu bảo người ta, không nên ức hiếp”. Bèn yên ủi rằng: “Từ trước đến nay, ai mà không chết, nhưng chết đi cần để danh tiếng lại đời sau. Ngày trước vua Vũ Vương có bệnh, Chu Công lập đàn cầu khẩn xin được chết thay, đời sau khen Chu Công là người trung. Ông bà không nên quyến luyến sống nơi ngõ hẻm hang cùng, mà nên cố sức làm bậc tôn thần sau khi đã mất, phù hộ thánh quân giữ vững ngôi báu, ngàn năm hương khói phụng thờ, để tiếng thơm trung nghĩa đến mãi đời sau. Như thế chẳng cũng đẹp đẽ lắm sao?”. Vũ Phục khảng khái nhận lời. Sứ giả hỏi: “Bình nhật ông bà thích thứ gì hơn cả?”. Vũ Phục nói: “Đồ gà mái, nấu cơm nếp”. Sứ giả liền sửa soạn và bảo nên ăn no. Khi ăn xong, Vũ Phục ngửa mặt lên trời khấn rằng: “Vợ chồng già này bỏ mình theo nước, trời cao có thấu xin chứng giám cho”. Liền đó, tự gieo mình xuống nước. Lúc ấy là ngày 30 tháng 11. Từ đấy dòng sông phẳng lặng, nước lớn rút dần, bệnh tình nhà vua cũng được khỏi hẳn. Nhân đấy lập miếu thờ và sắc phong là Chiêu Ứng phù vận đại vương và Thuận Chính Phương Dung công chúa, lễ nghi phẩm trật trọng thể”. (Trích trong: Lê Quý Đôn toàn tập, tập 2, “Kiến văn tiểu lục”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 433 - 434).

Ông bà Vũ Phục được Lê Quý Đôn nhắc đến được các làng của vùng Bưởi xưa gồm Yên Thái, Bái Ân, Thiên Thượng, Nghĩa Đô thờ phụng làm phúc thần với cái tên dân gian là ông Dầu, bà Dầu. Truyền thuyết về ông Dầu, bà Dầu có nhiều dị bản khác nhau cũng như được giải thích theo nhiều ý kiến. Có ý kiến cho rằng sự tích này giải thích hiện tượng cạn dòng của sông Thiên Phù. Có ý kiến thì cho rằng nó phản ánh tập tục lấy người sống làm vật tế lễ trước kia… Nếu lược đi từng lớp văn miêu tả nhuốm màu huyền bí, kì dị, thì cũng có thể qua đó thấy được công cuộc trị thủy thời Lý vô cùng vất vả. Phải chăng, ông bà Vũ Phục cũng tham gia công cuộc trị thủy dẫn đến hy sinh thân mình và trên cơ sở đó mà truyền thuyết đã huyền bí hóa một hiện tượng của lịch sử.

Mặt khác, truyền thuyết về ông bà Vũ Phục cũng thể hiện quan niệm đề cao tư tưởng trung quân của một thời kì Nho giáo thịnh đạt. Bởi vậy, Lê Quý Đôn đã lựa chọn thần tích hai vị phúc thần này để đưa vào mục “Linh tích” trong “Kiến văn tiểu lục” của ông.

3. “Xã Hữu Vĩnh, huyện Hoài An (nay là huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội) có miếu thờ thủy thần rất thiêng. Tương truyền, lúc Hoằng tổ Dương Vương chứa mấy trăm cây gỗ lớn ở bến sông Bồ Đề, một hôm bị mất hết không còn một cây nào cả. Người giữ gỗ báo tin ấy, vương thượng lấy làm lạ, sai người đi tìm khắp các bến sông, thì thấy hai người xã Độc Khê và Hữu Vĩnh, dâng nói: “ngày… tháng…, ở bến sông bản cảnh, bỗng dưng thấy mấy trăm cây gỗ lớn nổi trên mặt nước”. Vương thượng quát mắng rằng: “Thủy thần dám lấy trộm gỗ của ta à”, rồi truyền lệnh giáng phẩm vật vị thần này xuống hạ đẳng và sai trung sứ về miếu thu lấy sắc mệnh đã phong từ trước. Sáng sớm sứ giả bắt đầu ra đi, đến chiều, đã thấy chỗ chứa gỗ trước kia có vô số gỗ lớn ở bến sông, y số như cũ. Vương thượng cười nói: “Thần cũng biết sợ phép”, liền sai người phu ngựa gọi trung sứ trở về, tự điển vẫn để cho như cũ”. (Trích trong: “Lê Quý Đôn toàn tập”, tập 2, “Kiến văn tiểu lục”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 438).

Miếu thờ được Lê Quý Đôn nhắc đến ở trên là đền Đức Thánh Cả hay còn gọi là Thiên Vựng thuộc thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa ngày nay. Tương truyền, đền được xây dựng cách đây trên 1.500 năm. Đền thờ thần là vị tướng “Nhất phẩm đại vương” triều tiền Lý Nam Đế.

Các truyền thuyết về ngôi đền cũng kể rằng vào triều Đinh Tiên Hoàng, khi nhà vua đến đền cầu khẩn đã được thần báo mộng là sẽ âm phù giúp vua dẹp loạn 12 sứ quân. Nhớ ơn thần phù giúp, vua Đinh sắc phong “Thượng đẳng thần” cùng mỹ tự “Thượng linh tế thông cảm dực thánh hồng ân uy liệt hiển hựu trung minh quốc Thượng đẳng thần”. Đến thời nhà Trần, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn cũng đã vào đền làm lễ tế thần sau đó tiến đánh quân giặc giành đại thắng.

Trải qua những chặng đường lịch sử binh lửa, thế vận đổi thay của dân tộc, đền Đức Thánh Cả vẫn trường tồn như một biểu tượng về tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Đền đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào năm 1991./.

Bài liên quan
  • Một con phố vẫn thơm mùi thuốc Bắc
    Phố nghề Lãn Ông kéo dài khoảng 180m, nằm trên khu vực từng là đất thôn Hậu Đông, tổng Hậu Túc của huyện Thọ Xương cũ, nay thuộc phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp chiếm đóng Hà Nội và đặt tên cho con phố này là “rue de Fou-Kien” (nghĩa là phố Phúc Kiến) do có nhiều người Hoa Kiều từ tỉnh Phúc Kiến di cư về đây sinh sống. Vào năm 1949, con phố này được đổi tên thành Lãn Ông - lấy theo biệt hiệu của vị danh y Việt Nam là Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
(0) Bình luận
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
  • Ngựa trong đời sống Thăng Long - Hà Nội
    Hà Nội có 5 địa danh gắn với chữ Mã là phố Kim Mã, hồ Mã Cảnh, phố Hòa Mã, phố Hàng Mã và đền Bạch Mã. Tuy nhiên, chữ Mã với nghĩa là ngựa thì chỉ có Kim Mã, Mã Cảnh và Bạch Mã. Tuy nhiên Bạch Mã với nghĩa ngựa trắng chỉ là truyền thuyết, còn chữ Mã trong Hàng Mã và Hòa Mã là chữ Nôm chỉ đồ cúng tế, quần áo mặc khi làm lễ.
  • Phường Hoàn Kiếm: Dâng hương kỷ niệm ngày hóa của Đức Hỏa Thần
    Sáng 17/11/2025, tại đền Hỏa Thần (số 30 Hàng Điếu, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội), Đảng ủy, HĐND, UBND, UB MTTQ phường Hoàn Kiếm phối hợp cùng Ban Quản lý hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội, Tiểu ban quản lý di tích Đền Hỏa Thần và nhân dân địa phương long trọng tổ chức lễ dâng hương kỷ niệm ngày hóa Đức Hỏa Thần.
  • Đồ chơi Trung thu Hà Nội xưa: Từ ký ức đến hành trình tiếp nối
    Rằm tháng Tám, tiếng trống hội, đèn ông sao, mùi bánh nướng, bánh dẻo… như đánh thức ký ức tuổi thơ trong mỗi người. Với trẻ nhỏ, Trung thu là đêm hội rước đèn, phá cỗ dưới trăng, còn với người lớn, đó là dịp trở về miền ký ức với những món đồ chơi dân dã. Năm nay, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam mang đến cho công chúng một trải nghiệm đặc biệt qua không gian nghệ thuật sắp đặt “Sắc Thu” (diễn ra từ 4/10 và kéo dài đến 4/11/2025). Trong không gian ấy, có nhiều đồ chơi truyền thống gắn với các làng nghề Hà Nộ
  • Một dòng họ tài danh phát tích từ Lương Xá
    Nhà bác học Phan Huy Chú đã viết: “Ở làng Lương Xá nhà dòng dõi làm tướng, đời đời làm quan… Họ Đặng, từ Nghĩa Quốc công Đặng Huấn là công thần thời Lê Trung Hưng, có con gái lấy An vương Trịnh Tùng, sinh Văn tổ Trịnh Tráng. Về sau con cái đời đời vẻ vang, được phong Quận công, lấy Công chúa và làm chức Trấn thủ hơn 200 năm giàu sang mãi mãi…”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Nâng cao nhận thức về Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới
    “Tài liệu bồi dưỡng nhận thức về Đảng” (xuất bản lần thứ 24, có sửa chữa, bổ sung theo Văn kiện Đại hội XIV) cập nhật toàn diện các quan điểm chỉ đạo mới, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng lý luận trong kỷ nguyên phát triển của dân tộc. Nội dung tài liệu tập trung làm rõ tầm nhìn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đồng thời khơi dậy khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ. Đây là hành trang chính trị quan trọng, góp phần hình thành bản lĩnh, tư duy để học viên lớp đối tượng kết nạp Đảng sẵn sàng đứng vào hàng ngũ của Đảng.
  • Dự thảo Luật Thủ đô 2024 (sửa đổi): Đưa nền giáo dục và đào tạo Hà Nội vươn tầm cao mới
    Để hiện thực hóa khát vọng trở thành trung tâm giáo dục và đào tạo hàng đầu cả nước và châu lục, Điều 16 về “Phát triển giáo dục, đào tạo” trong Dự thảo Luật Thủ đô 2024 (sửa đổi) khẳng định sự đổi mới mới tư duy, trao quyền tự chủ và tạo bệ phóng để giáo dục, đào tạo Hà Nội thực sự vươn tầm.
  • Định vị “vũ khí tư tưởng” trong kỷ nguyên mới
    Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới” có thể xem là “kim chỉ nam” thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng để mở đường cho ngành xuất bản Việt Nam bứt phá, trở thành một ngành công nghiệp văn hóa - công nghệ mũi nhọn trong kỷ nguyên số, vươn tầm khu vực và thế giới.
  • Hà Nội tăng cường tuyển sinh và phân luồng giáo dục nghề nghiệp năm học 2026 - 2027
    Văn phòng UBND Thành phố đã ban hành Thông báo số 215/TB-VP ngày 23/3/2026 về kết luận của Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà tại cuộc họp nghe báo cáo công tác tuyển sinh và phân luồng giáo dục nghề nghiệp năm học 2026 - 2027.
  • Rộn ràng ngày hội STEM tại Trường Tiểu học Vạn Phúc
    Ngày 30/3, Trường Tiểu học Vạn Phúc đã tổ chức thành công Ngày hội STEM và Công nghệ thông tin năm học 2025–2026 với chủ đề “Công nghệ dẫn lối - Kiến tạo tương lai”. Sự kiện là hoạt động thiết thực nhằm thúc đẩy phong trào đổi mới sáng tạo, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong dạy và học, đồng thời tạo sân chơi bổ ích giúp học sinh phát triển tư duy, kỹ năng và niềm đam mê khám phá tri thức trong thời đại số.
Đừng bỏ lỡ
Ghi chép của Lê Quý Đôn về một số di tích ở kinh thành Thăng Long - Hà Nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO