Văn hóa – Di sản

Lý Thánh Tông – vị vua nhân ái, trọng văn hóa

Lê Văn Lan 25/10/2023 16:20

Lý Thánh Tông, tức Lý Nhật Tông, vua thứ ba triều Lý, là con trưởng Lý Thái Tông, chào đời tại Thăng Long ngày 25 tháng 2 năm Quý Hợi (1023).

Vị hoàng đế tương lại có 5 năm tuổi thơ được ông nội Thái Tổ đích thân kèm cặp, và đặc biệt là được vua cha Thái Tông giáo dưỡng cẩn trọng trong suốt 27 năm ngồi trên ngôi báu nước Việt của mình, trước khi trở thành “Lý gia đệ tam đế” - có phần muộn mằn - ở tuổi ba mươi hai.

tuong-tho-ly-thanh-tong.jpg
Tượng thờ vua Lý Thánh Tông.

Chắc chắn Lý Thánh Tông không có gì phải phàn nàn về sự muộn mằn đó. Vì trước tiên, ông biết rõ mình là người đã được lựa chọn. Vào năm Mậu Thìn (1028), ngay sau khi Lý Thái Tổ băng hà (ngày mồng một tháng ba), Lý Thái Tông lên ngôi (ngày mồng hai tháng ấy) thì đến tháng năm, sử cũ đã chép có việc “Lập Nhật Tôn làm thái tử” rồi: “Bấy giờ, bầy tôi xin với vua Thái Tông rằng - lời sử cũ - thái tử là căn bản của nước, nên sớm lập người con có thánh đức, chính vị Đông cung, để yên lòng mong muốn của thiên hạ. Nhà vua bèn theo lời, lập Nhật Tôn làm thái tử”.

Khi ấy, Lý Nhật Tôn mới vừa sáu tuổi. Năm năm sau, ở tuổi mười một, ông đã được phong vương tước, hiệu là “Khai Hoàng”. Đó là việc của tháng tám, năm Quý Dậu (1033). Và liền đó, tháng chín, thì vị Khai Hoàng Vương 11 tuổi ấy, đã được trao ngay trọng trách: thay phụ hoàng “trông coi việc nước” - ở cương vị “Lưu thủ kinh thành” - khi vua Lý Thái Tông “tự làm tướng dẫn quân đi đánh châu Trệ Nguyên, dẹp yên phản loạn ở châu ấy, rồi mới kéo quân về” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên, Quyển II)... Hẳn là đấng “Lưu thủ kinh thành”, lần ấy đã thực hiện tốt trọng trách của mình. Vì thế, các lần sau, hễ vua cha phải cầm quân đi viễn chinh thì việc “Lưu thủ kinh sư” lại được giao cho, không phải ai khác, mà đều là Khai Hoàng Vương Nhật Tôn, kể cả lần viễn chinh quan trọng nhất: đánh Chiêm Thành, năm 1044.

Việc “thực tập” - chuẩn bị làm hoàng đế Lý triều của Khai Hoàng Vương Nhật Tôn bắt đầu và liên tục, từ đó. Nó gồm rất nhiều việc phải làm, và nằm trong truyền thống đặc trưng nổi nét của nhà Lý lúc sơ khởi, truyền qua các đời vua Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông... là hết sức coi trọng việc luyện rèn cho người rồi sẽ đứng đầu vương triều, cai trị đất nước và chúng dân. Và cũng đúng như một đặc trưng nổi nét nằm trong truyền thống ấy - vị hoàng đế tương lai phải luôn và trước hết là võ tướng, giỏi việc cầm binh, đánh giặc giữ yên đất nước - chàng thái tử trẻ tuổi, ở và từ Thăng Long, đã không ít lần, mang ấn “Đại nguyên soái” xuất chinh. Đó là những việc lớn, được biên niên sử cũ, liên tục chép vào các năm 1042, 1043:

- Nhâm Ngọ (1042): Tháng 10, mùa đông, Văn Châu (Lạng Sơn) làm phản. Phong Khai Hoàng Vương làm Đô thống đại nguyên soái, đem quân đi đánh (khi này, Nhật Tôn 20 tuổi).

- Quý Mùi (1043): Tháng 3, mùa xuân, Ái Châu (Thanh Hóa) làm phản. Sai Khai Hoàng Vương (21 tuổi) làm Đô thống đại nguyên soái, đi đánh...

Tuy nhiên, riêng trong sự nghiệp luyện rèn cho vị thái tử rồi sẽ là “Lý gia đệ tam đế”, thì, vì thế nước trong đời vua cha Thái Tông đã đi vào ổn định, việc pháp luật trở thành rường cột triều chính, “Lý gia đệ nhị đế” đã là người đầu tiên của Lý triều “ban Hình thư, chế định luật pháp, mở ra một thời kỳ “Minh Đạo” (từ 1042) cho nên việc pháp lý cũng chính là một trọng sự để thái tử Lý Nhật Tôn luyện rèn, “thực tập”, và hơn nữa: phụ trách, ngay từ khi bước vào tuổi 18. Và, người đảm nhiệm việc “cầm cân nẩy mực” của pháp chế quốc gia, phán xử và phán quyết việc tranh chấp, thi hành pháp luật trẻ tuổi của triều đình này, còn được giao riêng cả một tòa cung điện trong thành: - điện Quảng Vũ - để thực thi sự nghiệp “Minh Đạo” của mình. Đây chính là việc đã được chép trong biên niên sử về năm Canh Thìn, 1040: cám

“Tháng tư, mùa hạ. Nhà vua (Lý Thái Tông) xuống chiếu phàm các việc kiện tụng, đều giao cả cho Khai Hoàng vương Nhật Tôn xét xử, định đoạt, rồi tâu lên”.

“Dùng điện Quảng Vũ (ở phía tây Sân Rồng của tòa chính điện Thiên An) làm nơi xử kiện. Phàm các việc kiện tụng trong nước, đều do nơi đó sử đoán, rồi tâu lên vua” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Chính biên, Quyển III)...

Chỉ một năm sau đấy (1041), một vụ trọng án đã xảy ra: “Tháng sáu, mùa hạ, Điện tiền chỉ huy sứ là bọn Đinh Lộc và Phùng Luật mưu làm phản. Đều bị giết”.

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép việc này, chỉ ghi chi tiết: “Nhà vua (Lý Thánh Tông) hạ chiếu, bắt Đinh Lộc, Phùng Luật, giao cho quan lại trị tội”. Nhưng chính bộ Đại Việt sử ký toàn thư trước đấy đã cho biết rõ: vụ trọng án này là do Lý Nhật Tôn xử lý. Sách này chép: “Điện tiền chỉ huy sứ Đinh Lộc và Phùng Luật mưu làm phản. Xuống chiếu bắt Lộc, Luật, và bè đảng, giao cho quan trị tội. Khai Hoàng Vương xét xử: bọn Lộc, Luật đều phải giết!”...

Có thể nhận ra: Từ cái “truyền thống” chỉ riêng mở cho mình như thế, Lý Thánh Tông sau này mới trở thành một ông vua nổi trội của nhà Lý về phương diện có nhiều hành vi pháp lý đặc sắc. Nhất là tư tưởng pháp lý - sau một thời nghiệt ngã - đã chuyển sang mang nhiều vẻ nhân đạo nhân văn hơn. Sử cũ đã chép được hai lần biểu thị tư tưởng này của Lý Thánh Tông, vào biên niên sử các năm 1055 và 1064:

- Ất Mùi (1055): Ngay vào năm thứ hai trị vì đất nước, Lý Thánh Tông đã “ban ơn chẩn tế cho những tù bị giam trong ngục. Bấy giờ rét dữ, nhà vua bảo những người tả hữu rằng: “Trẫm ở chốn thâm cung, sưởi thứ than chế bằng xương loài thú, mặc áo hồ cừu, mà còn rét thế này. Trẫm rất thương xót những người tù bị giam trong ngục kia: Cơm không đủ no lòng, áo không đủ che cật, thì còn bị gió rét dằn vặt đến đâu. Vậy hạ lệnh cho viên quan có trách nhiệm phát chăn chiếu cho họ, và mỗi ngày cho ăn hai bữa!”.

- Giáp Thìn (1064): “Nhà vua ngự điện Thiên Khánh xử kiện. Công chúa Động Thiên hầu bên cạnh. Nhà vua trỏ vào công chúa mà bảo ngục lại: “Ta đem lòng cha mẹ đối với dân, cũng như lòng thương con ta đấy. Dân không biết gì, tự mình làm mình mắc phải tội lỗi, ta rất xót xa. Từ nay, không cứ tội nặng hay nhẹ, cốt phải xét một cách rộng rãi, tha cho những kẻ lầm lẫn mà mắc tội!”.

Không chỉ về mặt tư tưởng pháp lý, mà cả về mặt hành vi (tổ chức) pháp chế, Lý Thánh Tông cũng là người có những công việc đột phá. Chẳng hạn như việc: “Cấp lương bổng cho những quan lại giữ việc hình ngục”. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục - dẫn sách Lịch triều hiến chương loại chí cho biết: dưới triều Lý, các quan trong triều và ngoài các lộ, đều không có lương bổng (quan trong: thỉnh thoảng được vua ban thưởng, quan ngoài: được giao phó cho dân một làng để thu thuế ruộng đất đầm ao, lấy đấy mà tự cung cấp cho mình) - đã chép rõ: Lý Thánh Tông “dùng Ngụy Trọng Hòa và Đặng Thế Tư làm quan “Đô hộ phủ sĩ sư” (quan chức coi việc pháp luật), đổi mười người “thư gia” (coi việc sổ sách giấy tờ) làm “án ngục lại” (giúp việc xét hỏi ngục tụng). Cho Trọng Hòa và Thế Tư, mỗi người được mỗi năm: 50 quan tiền, 100 bó lúa, cá và muối đủ dùng. Cho các ngục lại, mỗi người 20 quan tiền và 100 bó lúa”. Việc cấp lương bổng này cốt để gây nuôi lòng thanh liêm của họ.

Dĩ nhiên, cùng với việc làm một hoàng đế - pháp quan như thế, Lý Thánh Tông cũng còn - nhờ đã quen “thực tập chiến binh” - không hổ danh là một hoàng đế - võ tướng. Vẫn sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, nhưng lần này thì dẫn sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, cho biết: Phép hành quân của nước Đại Việt ở thời kỳ Lý Thánh Tông (hẳn là có đóng góp quan trọng của Lý Thường Kiệt chính là người do Lý Thánh Tông khởi sự trọng dụng) đã được viên quan nhà Tống là Thái Diên Khánh mách với vua Tống để học theo - đã viết rõ sự bình luận (đánh giá) là: “Binh pháp triều Lý, được Trung Quốc phỏng theo là thế đấy! Nhà Lý, phía bắc, phá được châu Ung, châu Liêm, phía nam bình được Chiêm Thành, Chân Lạp, đánh đâu được đấy, thật là có cớ như thế chứ!”.

Những việc “phá Tống bình Chiêm” thế này, nói cho công bằng, là chủ yếu nhờ và do Lý Thường Kiệt thực hiện, vào đời Lý Nhân Tông, vốn là hoàng trưởng tử của Lý Thánh Tông, ít năm sau thời trị vì của Lý gia đệ tam đế. Nhưng, cũng vẫn nói cho công bằng, thì quả là những tiền đề, đã có từ ngay trong đời vị hoàng đế - võ tướng Lý Thánh Tông rồi. Ấy là những sự việc, trước hết thuộc về biên niên sử năm Kỷ Hợi (1059), được chép vắn tắt trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư. “Mùa xuân, tháng 3, đánh Khâm Châu nước Tống, khoe binh uy rồi về, vì ghét nhà Tống phản phúc". Còn ở trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì được chép kỹ hơn: “Tháng 3, mùa xuân. Sang đánh Tống, quân ta kéo đến Khâm Châu rồi trở về. Quân ta kéo đến Tư Lẫm doanh thuộc Khâm Châu, diễu võ dương uy rồi trở về. (Có) việc hành quân này, vì ghét nhà Tống tráo trở”...

Đến sự việc năm Canh Tý (1060) thì cả hai bộ chính sử triều Lê và triều Nguyễn đều chép giống nhau: “Châu mục Lạng châu là Thân Thiệu Thái đuổi bắt những kẻ trốn tránh, vượt sang đất Tống, bắt chỉ huy sứ nhà Tống là Dương Bảo Tài đem về. Quân Tống tràn sang xâm lấn bên ta, nhưng thất bại. Đến lúc này, nhà Tống sai Lại bộ thị lang là Dư Tĩnh đến Ung Châu để hội nghị. Vua (Lý Thánh Tông) sai Phí Gia Hựu sang dự hội. Dư Tĩnh đưa lễ vật hậu hĩ tặng biếu Gia Hựu, nhân đấy đưa thư xin ta trả lại Bảo Tài cho nhà Tống. Nhưng nhà vua không nghe!”...

Rõ ràng, chỉ đạo cương quyết việc này - 5 năm trước lần “tiên phát chế nhân” của Lý Thường Kiệt: đem quân sang đánh phá các căn nhà Tống chuẩn bị xâm lược Đại Việt là Lý Thánh Tông.

Còn đối với Chiêm Thành, thì càng tỏ tường là vị hoàng đế - võ tướng Lý Thánh Tông, không những không thua kém phụ hoàng Thái Tông của mình trong việc tiến hành chiến tranh, mà còn hơn cả bậc tiên hoàng, trong việc phát huy chiến quả, khai thác tác dụng của chiến công. Cuộc chiến tranh lớn, do Lý Thánh Tông phát động, có Lý Thường Kiệt là tiên phong chống Chiêm Thành vào năm Kỷ Dậu (1069), từ mùa xuân tháng hai đến mùa hè tháng sáu, đã giành đại thắng, với chiến tích: nâng chủ soái Thánh Tông năm 1069 lên ngang hàng với chủ soái Thái Tông năm 1044 trong việc đánh chiếm kinh thành, tiêu diệt quốc vương nước địch. Nhưng nếu Thái Tông đã giết đến 3 vạn người (trong đó có cả vua Sạ Đẩu “Jaya Sinhavarman II”) mà chỉ bắt về 5 nghìn tù binh (trong đó có “phu nhân My Ê”) và rất chăm việc cướp bóc hết của cải và phụ nữ Chiêm Thành thì, Thánh Tông lại tập trung vào việc dùng nhân lực (nhân sự) nước bại trận trong công cuộc mở mang xây dựng nước nhà: bắt sống vua Chế Củ “Rudravarman IV” nhưng lại đổi mạng quốc vương Chiêm Thành lấy đất ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, và điều đến 5 vạn tù nhân Chiêm Thành về Đại Việt để lao động (lao dịch)!

Ngay sau và nhân vũ công đánh phá Chiêm Thành này, vào tháng 7 năm 1069, Lý Thánh Tông đã cho đổi niên hiệu của mình, từ đây, thành “Thần Vũ”. Trước đấy, niên hiệu của ông là: “Thiên Huống Bảo Tượng” dùng từ mùa xuân năm 1068, nhân việc châu Đăng (mạn Tây Bắc đất nước) dâng về triều hai con voi trắng! Trước đấy nữa, ông dùng niên hiệu “Long Chương Thiên Tự”, do việc năm 1066, làm chùa Phật Tích, nguyên phi Ỷ Lan sinh cho ông quý hoàng thái tử Lý Càn Đức... Những việc dùng và thay đổi niên hiệu như thế này của Lý Thánh Tông đặc biệt là việc sáng tạo ý tứ trong niên hiệu đầu tiên: “Long Thụy Thái Bình” (1054) là một tín hiệu, trong rất nhiều thông tin, minh chứng một khía cạnh nhân cách, một phương diện con người, ở ông, còn lớn và quan trọng, chính yếu hơn cả hai con người mà ta đã vừa thấy ở ông: “Hoàng đế pháp quan” và “Hoàng đế võ tướng” - Đó là: Hoàng đế thi thư văn hiến!

Nhân thân của một vị hoàng đế thi thư văn hiến, ở Lý Thánh Tông, đã bộc lộ rõ ràng, đầu tiên, ngay ở năm thứ nhất trị vì đất nước của ông, bằng việc đặt tên cho nước là “Đại Việt”. Quốc hiệu “Đại Việt”, từ năm Giáp Ngọ 1054, bắt đầu có, là do Lý Thánh Tông. Về việc này, sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục khẳng nhận: “Trước kia, Đinh Tiên Hoàng thống nhất đất nước, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Các triều đại sau vẫn theo như thế. Đến đây mới đổi lại (là Đại Việt)”...

Vị hoàng đế thi thư văn hiến Lý Thánh Tông còn chính là người đã xây dựng không biết mệt mỏi những công trình tiêu biểu nhất của nền văn hóa Thăng Long - văn minh Đại Việt, nền văn hóa văn minh do chính ông hoàn thiện và kết thúc quá trình khởi dựng bắt đầu từ đời vua ông Thái Tổ, và vua cha Thái Tông.

Cho đến nay, quanh khu vực đang có ngôi “Nhà thờ lớn” (ở quận Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội) xây chồng lên di tích nền móng của tòa tháp Báo Thiên, khởi dựng trong những năm 1056-1057, vẫn thấy xuất lộ từ trong lòng đất những viên gạch cỡ lớn, đỏ au lửa nung già, với hàng chữ nổi nét “Lý gia đệ tam đế, Long Thụy Thái Bình niên tạo” (làm năm Long Thụy Thái Bình đời hoàng đế thứ ba nhà Lý). Đó chính là dấu ấn của Lý Thánh Tông ở một công trình để đời của ông: Tòa tháp 12 tầng, cao vài chục trượng, “cây cột trụ chống trời giữ yên non sông” (Sơn hà bất động kình thiên trụ - thơ Phạm Sư Mạnh, đời Trần) báu vật khổng lồ hàng đầu trong “tứ đại khí” biểu tượng của nền văn hóa Thăng Long thời thịnh vượng nhất! Và ở ngọn núi Tiên Du (Kinh Bắc xưa, Bắc Ninh nay) những tác phẩm điêu khắc đá của ngôi chùa Phật Tích - còn lưu lại tại chỗ, hoặc đã được đưa về các bảo tàng và các bộ sưu tập cổ vật - lừng danh, cũng lại đã làm bằng chứng nữa, cho một công trình kiến trúc - nghệ thuật Phật giáo tuyệt vời của nền văn hóa Thăng Long văn minh Đại Việt, hồi giữa thế kỷ XI hoàng kim. Chính Lý Thánh Tông đã cho xây dựng một tòa bảo tháp nữa tại đây, ngay vào năm đầu, niên hiệu “Long Chương Thiên Tự” (1066) của mình. Ngôi “Thiên tự” của đấng con trời này, còn là nơi chốn thường xuyên lui tới và để tâm để trí lâu dài của Lý Thánh Tông. Một năm trước khi lìa đời, ông vẫn còn tự tay viết bia, với một chữ “Phật”, dài đến 1 trượng 6 thước, đặt ở nơi Tiên Du Phật Tích này.

Lý Thánh Tông, vậy, cũng còn là một hoàng đế hoằng dương Phật pháp, như các tiên vương tiên đế của mình. Nhưng, ở nhân cách của một vị hoàng đế văn hiến thi thư, Lý Thánh Tông còn hơn cả cha ông ở chỗ biết “tràn bờ Phật giáo” để lan loang vươn xa nữa, tới vùng rừng Nho (Nho lâm), với công trình tạo tác và tinh kết của mình, khởi từ năm Canh Tuất, niên hiệu Thần Vũ thứ hai, (1070). Chiếm lĩnh cả một không gian tốt lành ở ngay mé ngoài cửa Nam hoàng thành Đại Hưng, đây chính là công trình văn hóa tiêu biểu không chỉ của tòa kinh đô Thăng Long nghìn năm văn hiến, mà còn của cả nước Đại Việt thời Lý - Trần thịnh trị: ngôi Văn Miếu của thời Lý Thánh Tông!

Phải chờ đến thời Lê, mới thấy sử sách có mấy dòng vắn tắt về công trình văn hóa có một không hai này: “Mùa thu, tháng tám, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, và tứ phối, vẽ tượng thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây” (Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển III)... Tuy nhiên, chỉ qua mấy câu ngắn gọn này, cũng đủ để thấy thêm ở công trình xây dựng này của Lý Thánh Tông ngoài dấu hiệu của Nho học được biểu dương đúng đắn và đúng lúc, phản ánh rõ đặc trưng của văn hóa và lịch sử đương đại, thì việc đưa thêm nhân vật chính trị Chu Công (Đán) vào giữa thế giới của Khổng Tử để biểu dương, tôn thờ, ngay lúc mới khởi lập Văn Miếu (đến năm 1156, đời Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành, làm lại Văn Miếu, mới có việc tách Chu Công ra), dường như còn phản ánh một dụng ý riêng của vị hoàng đế văn hiến thư: Khích lệ quần thần hãy chung lo cùng bậc quân chủ đã luống tuổi, trong việc vun đắp cơ đồ nhà Lý và nước Đại Việt, khi chẳng còn bao lâu nữa, đương kim Lý gia đệ tam đế sẽ về chầu tiên tổ, mà ấu chúa kế vị thì hãy còn trứng nước quá! Lý triều và nước Việt, khi ấy rất cần đến một Chu Công (Đán) với tấm lòng trung trinh và tài năng siêu quần phò giúp ấu chúa, lên ngôi, và ngồi vững trên ngai vàng Đại Việt! Sự việc hoàng thái tử Lý Càn Đức, lúc này mới 5 tuổi, cũng phải theo lệnh vua cha, gấp đến nơi biểu dương tôn thờ một Chu Công như thế ở Văn Miếu mà học hành, càng cho thấy rõ điều này.

Với cách làm thông điệp cho ngày mai, qua việc xây dựng một công trình của hôm nay, như thế, Lý Thánh Tông còn khiến cho mọi người nhận thấy ở mình: một vị hoàng đế văn hiến thi thư, biết nhìn xa trông rộng, và biết lo toan sâu sắc, thâm trầm cho đại sự và tương lai.

Hai năm sau khi hoàn thành xây dựng Văn Miếu, vào đầu xuân năm Nhâm Tý (1072), Lý Thánh Tông băng hà ở điện Hội Tiên, giữa tòa Long Thành của kinh đô Thăng Long, thọ 50 tuổi, sau khi đã làm vua được 17 năm. Sử cũ khen ông là: “Khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, xót kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, đáng gọi là bậc vua tốt”...

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
  • Bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng - TP Hà Nội: Hương vị mộc mạc lưu giữ ký ức Hà thành
    Giữa sự thay đổi không ngừng của văn hoá ẩm thực Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì vẫn giữ được dấu ấn riêng bằng hương vị giản dị và kỹ thuật chế biến thủ công đặc trưng. Từ những gánh hàng rong xưa đến những cơ sở sản xuất ngày nay, món ăn làm từ hạt gạo quê này không chỉ phản ánh nét tinh tế trong văn hóa ẩm thực Thủ đô mà còn lưu giữ câu chuyện về một nghề truyền thống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
  • Làng Vạn Phúc giữ gìn cốt cách văn hóa trong dòng chảy hiện đại
    Bước chân vào làng Vạn Phúc, người ta dễ dàng cảm nhận sự giao thoa giữa quá khứ và hiện tại. Những mái đình, ngôi chùa cổ kính, những câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác và nhịp sống bình dị của người dân đã tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng, nơi ký ức của vùng quê Bắc Bộ vẫn được nâng niu, gìn giữ qua năm tháng.
  • Tôn vinh di sản, lan tỏa thương hiệu “Huế - Kinh đô Áo dài”
    Tuần lễ Áo dài Huế 2026 với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch đặc sắc trải dài trên nhiều không gian di sản, danh thắng và địa điểm văn hóa tiêu biểu của TP Huế sẽ diễn ra từ ngày 3 - 10/7.
  • Công bố xếp hạng đình Liễu Cốc Thượng là Di tích cấp TP Huế
    Bảo tồn nhiều tư liệu, sắc phong cùng các giá trị văn hóa gắn với đời sống tâm linh, phong tục tập quán của người dân đã trải qua hơn 500 năm nên đình Liễu Cốc Thượng được xếp hạng Di tích cấp TP Huế.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Dưới gốc cây thanh trà
    Tháng sáu về mang nắng gió rải đều trên khắp con đường, ngõ xóm, tôi mon men chân trần đi trên đám cỏ non dẫn vào khu vườn kí ức, ở đó, đám cây thanh trà đang rộ, quả vàng chín mọng, căng mình dưới lớp lá xanh đậm. Mùa này là mùa của những dư vị thanh thanh nơi đầu lưỡi, tôi có thể thả mình vào nơi mát mẻ của khu vườn, nghe tiếng ve thao thiết gọi hè. Những quả thanh trà được tưới đẫm nước, lấp lánh vàng, căng mọng, chỉ chờ tay người hái.
  • Tiểu thuyết “Phi công” - kiệt tác văn học đương đại Nga ra mắt độc giả Việt
    Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam vừa giới thiệu tới bạn đọc tiểu thuyết “Phi công” của nhà văn Nga đương đại Evgeny Vodolazkin, do dịch giả Phan Xuân Loan chuyển ngữ. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết Nga nổi bật nhất của thập niên 2010.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Em trai
    Tôi sinh ra và lớn lên tại một ngôi làng hẻo lánh, nghèo nàn trên đỉnh núi. Ngày qua ngày, cha mẹ tôi “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” cày xới đám đất khô đã ngả vàng nuôi gia đình mà vẫn khó khăn. Mùa xuân, hoa lá cỏ cây đua nhau nở nhưng nhà chúng tôi lúc nào cũng màu xám...
  • Tiếp nối hành trình nhân ái: Mang “nhịp đập khỏe mạnh” đến với hơn 500 trẻ em vùng khó
    Tiếp nối thành công và những giá trị nhân văn sâu sắc từ chương trình tầm soát tại các xã Giao Hòa, Giao Thủy và Giao Bình, hành trình mang “nhịp đập khỏe mạnh” đến với trẻ em vùng cao lại vừa viết tiếp một chương mới đầy ý nghĩa. Ngày 28/6, Chi cục Dân số và Trẻ em tỉnh đã phối hợp cùng Bệnh viện Tim Hà Nội và Trạm Y tế xã Cúc Phương (tỉnh Ninh Bình) tổ chức chiến dịch khám, sàng lọc bệnh lý tim mạch hoàn toàn miễn phí cho thế hệ mầm non trên địa bàn các xã: Cúc Phương, Thanh Sơn và Phú Long.
  • Dưới tán phong linh – những mùa xuân tuổi học trò
    Mọi người thường nghĩ rằng hoa đào bừng nở hồng tươi khắp đường phố đã là cảnh xuân đẹp nhất của Hà Nội. Tuy nhiên, khi những tán phong linh bắt đầu ra hoa, người ta mới nhận ra rằng ở Thủ đô vẫn còn một vẻ đẹp khác, tĩnh lặng và đầy chất thơ.
Đừng bỏ lỡ
  • Truyện tranh “Thần Giấy Hlabar”: Đưa lịch sử chữ viết Bahnar đến với thiếu nhi
    Hơn ba năm sau “Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ”, bộ đôi tác giả Phạm Thị Kiều Ly - Tạ Huy Long tiếp tục giới thiệu truyện tranh “Thần Giấy Hlabar - Sử thi nhỏ về chữ viết Bahnar”. Tác phẩm được chuyển thể từ một công trình nghiên cứu về lịch sử chữ viết Bahnar, qua đó góp phần đưa đề tài ngôn ngữ học đến gần độc giả nhỏ tuổi.
  • Vở kịch "Ngược chiều bình an" và hành trình nghệ thuật nối dài mạch nguồn tri ân
    Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ, trong tháng 7 và tháng 8, Nhà hát Kịch Việt Nam sẽ tổ chức chuyến lưu diễn xuyên Việt với vở kịch “Ngược chiều bình an” — một tác phẩm sân khấu mang đậm ý nghĩa tri ân, tưởng nhớ và tôn vinh những con người đã hy sinh vì dân, vì nước.
  • Tái hiện thiên tình sử bất hủ giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Công chúa Thiên Thành
    Vở cải lương “Tình sử Đông A” tái hiện thiên tình sử bất hủ giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Công chúa Thiên Thành, đưa khán giả trở về với một giai đoạn lịch sử rực rỡ, nơi tình yêu, lòng trung nghĩa và khí phách dân tộc cùng tỏa sáng. Đêm diễn sẽ chính thức được mở màn vào lúc 20h00 ngày 27 tháng 6 năm 2026 tại Rạp Chuông Vàng, số 72 Hàng Bạc, Hà Nội.
  • Hà Nội tăng cường phát triển xuất bản trong tình hình mới, lan tỏa văn hóa đọc và sức mạnh mềm văn hóa Thủ đô
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Hướng dẫn số 38-HD/BTGDVTU ngày 22/6/2026 về quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Hướng dẫn xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm phát triển xuất bản theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gắn với phát triển văn hóa đọc, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số trên địa bàn Thủ đô.
  • "Trải nghiệm văn hóa dân gian truyền thống" tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Từ ngày 1 đến 31/7/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra chuỗi hoạt động tháng 7 với chủ đề "Trải nghiệm văn hóa dân gian truyền thống", mang đến nhiều chương trình trải nghiệm, giao lưu và thực hành di sản dành cho công chúng, đặc biệt là thanh thiếu niên trong dịp hè.
  • Khai mạc Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026
    Tối 26/6, tại Hà Nội, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với Hãng phim Quốc gia Belarus (Belarusfilm) và Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus tổ chức lễ khai mạc Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026.
  • Khai mạc Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026: Tôn vinh giá trị của sen trong đời sống người Việt
    Tối 26/6, tại Vườn hoa Lý Tự Trọng, Sở Du lịch Hà Nội phối hợp với UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Sắc Sen Hà Nội”. Đây là sự kiện văn hóa - du lịch quy mô lớn nhằm tôn vinh giá trị của sen trong đời sống người Việt, đồng thời góp phần xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa đặc trưng của Thủ đô gắn với hình ảnh hoa sen.
  • Tầm nhìn thế kỷ để Thủ đô Hà Nội bứt tốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
    Trong suốt tiến trình lịch sử phát triển đô thị của Việt Nam, chưa có một văn kiện nào thể hiện chiều sâu không gian và chiều dài thời gian vĩ mô như Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính chị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 đánh dấu một bước ngoặt tư duy mang tính cách mạng, thay thế các góc nhìn ngắn hạn bằng một hệ kiến trúc chính sách mang tầm thế kỷ cho Hà Nội.
  • Thêm một không gian vui chơi cho trẻ tại Phố Sách Hà Nội
    Sáng 26/6, tại Phố Sách Hà Nội (phố 19 háng 12, phường Cửa Nam), UBND phường Cửa Nam phối hợp với Tập đoàn Picenza Việt Nam, doanh nghiệp xã hội Think Playgrounds và Ban Quản lý Phố Sách Hà Nội tổ chức ra mắt Khu vui chơi - Chòi chơi Phố sách, hưởng ứng kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026).
  • Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026
    Từ ngày 26 đến 28/6/2026, tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Hà Nội), Cục Điện ảnh phối hợp với Hãng phim Quốc gia Belarus (Belarusfilm) và Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus tổ chức “Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026”.
Lý Thánh Tông – vị vua nhân ái, trọng văn hóa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO