Mùa thu Hồ Gươm
Chiều dần buông nắng, mặt nước hồ thu bỗng trở lên huyền diệu. Ngắm nhìn bầu trời trong vắt hiền hòa, lung linh mây trắng lãng du trên muôn ngàn sóng biếc lấp lánh, bất chợt tôi nhận ra một điều: gần gũi và gắn bó với Hà Nội hơn nửa đời người, đã bao lần đến thăm đền vua Lê, đã bao lần dạo quanh bên Tháp Rùa nhưng thú thực, chưa bao giờ tôi lại thấy trái tim của Thủ đô đẹp hơn trong buổi hoàng hôn mùa thu.

Thu về, mặt hồ và màu trời trên sóng nước hiện ra đúng như cái tên gọi của hồ thủa trước. Sắc tảo lục loang ra trên những gợn sóng xôn xao, lấp lánh ánh hoàng hôn; hương hoa sữa đâu đó theo về trong gió heo may mơ màng, nồng nàn từng góc phố, làm cho người ta cảm thấy tất cả phố phường, đền tháp bên hồ đều trở nên êm dịu, thơ mộng; chất chứa bao nỗi niềm xúc cảm, giống như một bài thơ khiến những bước chân qua không khỏi bị níu lại, mặc sức quyến rũ, mê mẩn, say đắm lòng người.
Và rồi, sau những mưa bão, mặt hồ có vẻ yên tĩnh hơn. Gió thu không còn bức bối như những ngày hè nắng chảng. Dường như nó vẫn còn đẫm hơi nước nên khi thoảng qua trên phố rực rỡ lá vàng rơi, làn gió ấy đã làm cho người ta cảm thấy mát lạnh, dễ chịu như thể giải tỏa được những cơn nóng nực trong lòng; khiến cho cái nắng “rám trái bưởi” cũng trở nên hiền hòa hơn, bớt được phần nào những gay gắt. Dạo chơi bên hồ, ngắm nhìn cây lá in hình trên sóng nước vàng lay; ai nấy đều cảm thấy lòng mình như trẻ lại, khó có thể cưỡng nổi một tấm hình; phố phường, cảnh vật cũng thế mà tươi mát, dịu dàng. Cứ vậy, bầu trời, mặt nước, cảnh vật mùa thu của hồ Gươm hiện ra trước mắt với một vẻ đẹp đến nao lòng; làm cho ký ức ùa về biết bao điều hoài niệm.
Nhớ lại những ấn tượng về hồ Gươm trong tôi có hai thời điểm với những kỷ niệm thật khó quên. Lần đầu là những năm tám mươi của thế kỷ trước, khi ấy còn là thiếu nhi, tôi được theo đoàn học sinh giỏi của tỉnh Hà Tuyên về dự Hội nghị cháu ngoan Bác Hồ ở Thủ đô. Sau buổi lễ báo công lên Bác, sau khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng động viên, dặn dò và bác Vũ Kỳ dẫn đi thăm nhà sàn, ao cá, vườn cây của Bác; chúng tôi được đoàn đưa đi chơi hồ Gươm. Ngày ấy, trong ký ức của tôi, hồ Gươm là một hồ nước to, rất đẹp; bên bờ hồ có nhà Bưu điện; giữa hồ có Tháp Rùa, có ngôi đền; bên ngoài cổng đền có tháp bút, vào đền phải đi qua một chiếc cầu cong; trong đền có một xác ướp cụ rùa rất to bày trong lồng kính. Đặc biệt, bên bờ hồ còn có cửa hàng kem Thủy Tạ. Kem ăn rất ngon, ngọt lịm, mát lạnh, thơm nức. Lần ấn tượng thứ hai, đó là năm đầu tiên của thập niên chín mươi, cũng của thế kỷ trước; ngày ấy tuổi đôi mươi đầy mơ mộng, khi tôi chân ướt chân ráo rời quê hương vùng cao cực Bắc về Thủ đô theo học nghề sư phạm. Dường như, ký ức tuổi thơ về hồ Gươm khó quên nên khi nhập học xong, ngày chủ nhật, tôi liền mượn xe đạp và lang thang vào phố, dạo ngắm hồ Gươm. Và rồi từ ngày ấy đến nay, hồ Gươm là nơi tôi thường trở đi trở lại mỗi khi có thời gian rảnh rỗi. Hình ảnh hồ Gươm trong tôi của những ngày đầu đời sinh viên thật mơ mộng, để rồi góc ký ức về lẵng hoa xinh tươi trong lòng thành phố ngày càng được nhân lên nhiều hơn. Đó không chỉ là những kỷ niệm của ký ức thời niên thiếu khi lần đầu được về Thủ đô nữa mà được cộng thêm bởi những kỷ niệm của một thời thiếu nữ với tà áo dài thướt tha, e thẹn tạo dáng bên cái nhánh cây nhuộm lá vàng, lá đỏ đang sải mình, uốn cong, la đà trên mặt nước của “cụ” lộc vừng chín gốc nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng. Ngày ấy, tôi thấy khách phương xa đến Hồ Gươm, mọi người, ai cũng phải cố chụp cho mình một kiểu ảnh ở bên cây lộc vừng. Hình như những cái cây uốn cong, ngả xuống mặt nước dễ tạo nên những khung hình sinh động cho mọi người đến chụp ảnh nên cái gốc cây này cũng khiến nhiều tay săn ảnh chết mê chết mệt. Ngày đó, tôi có cảm giác, cụ cây lộc vừng nổi tiếng đến mức tưởng như là một trong những biểu tượng thương hiệu của hồ Gươm. Một tấm ảnh bên gốc cây ngả nghiêng la đà trên mặt hồ ấy cũng đủ để khẳng định cho sự có mặt của mình ở nơi vua Lê Thái Tổ từng trả lại thanh gươm báu cho cha Lạc Long Quân qua thần Kim Quy. Sau này, thi thoảng đến chơi dạo bên hồ, tôi còn thấy vào mỗi mùa ra lộc, kết hoa; cụ lộc vừng thay áo, trổ mã khoe sắc với những cánh lá màu vàng, màu đỏ hay những chùm hoa buông xuống như những dây “đèn lồng” được trang trí bằng muôn cánh hoa nhỏ li ti, màu hồng khiến cho cả một góc hồ bừng lên như một không gian cổ tích. Những sắc màu ấy, dù treo lơ lửng trên cây hay lìa cành rơi xuống tạo thành những tấm thảm lung linh sắc màu trên mặt nước, dưới gốc cây thì cũng đều làm cho bức tranh hồ Gươm trở nên xao động, đầy ấn tượng; làm cho người ta không khỏi ngẩn ngơ, rung động. Cái sự tồn tại huy hoàng ấy tuy ít ngày thôi những cũng đủ làm khuynh đảo cả một góc trời Thủ đô.

Theo năm tháng, kỷ niệm về hồ Gươm trong tôi không ngừng được nhân lên và bồi đắp bằng những hiểu biết về mảnh đất lắng hồn linh thiêng của sông núi ngàn năm. Nhiều khi ngắm nhìn Tháp Bút - Đài Nghiên sừng sững, ngạo nghễ; cầu Thê Húc yêu kiều, duyên dáng; Tháp Rùa mộc mạc, đơn sơ; tháp Hòa Phong rêu phong, cổ kính… mà lòng lại trào dâng biết bao niềm tự hào, yêu dấu về một dân tộc ngàn năm văn hiến; khát khao hùng cường, độc lập với một nỗi niềm tha thiết, cháy bỏng cho hoà bình, nhân nghĩa. Đất nước bốn ngàn năm với biết bao phen “chồn ngựa đá” với hàng chục cuộc chiến đi qua và dân tộc này đã phải “rũ bùn đứng dậy sáng loà”, “đạp quân thù xuống đất đen” để rồi sau đó “súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”. Khát vọng cao đẹp ấy đời nào cũng vậy. Trong truyền thuyết, hồ Gươm chẳng đã từng là chứng nhân cho tinh thần nhân văn ấy. Câu chuyện vua Lê trả gươm thiêng đó chẳng phải là khát vọng hoà bình muôn đời của dân tộc hay sao? Ba chữ “Tả Thanh Thiên” (viết lên trời xanh) mà nhà nho Nguyễn Văn Siêu cho đắp trên Tháp Bút và hình ảnh chiếc Đài Nghiên (nghiên mực làm bằng đá để bên Tháp Bút), nằm ở phía ngoài cầu Thê Húc, trên lối vào đền Ngọc Sơn, cùng với việc thờ thần Văn Xương Đế Quân (ngôi sao chủ trì việc văn chương, khoa cử) không chỉ thể hiện hiện cái hào khí ngút trời của các bậc sĩ phu Bắc Hà mà còn cho thấy một tinh thần hiếu học, yêu chuộng chữ nghĩa có từ ngàn đời của dân tộc. Phía sau Tháp Bút - Đài nghiêng là cây cầu Thê Húc làm bằng gỗ sơn son, cong cong duyên dáng như chiếc lược ngà. Cây cầu nhỏ nhắn, xinh đẹp ấy không chỉ là biểu tượng kiến trúc độc đáo mà còn thể hiện một khát vọng tốt đẹp theo tâm linh phương Đông. Cầu hướng về phía Đông, phía mặt trời mọc để mong đón được phúc khí. Màu cầu sơn đỏ theo dân gian là hỷ khí, gắn liền với ước mơ về hạnh phúc. Tên cầu, “Thê Húc” có nghĩa ngưng tụ hào quang hay giọt ánh sáng đậu lại, cũng có nghĩa là cầu của thần mặt trời để gửi gắm những khát vọng theo tín ngưỡng của cư dân trồng lúa. Thời xưa, cây cầu là nơi ngắm cảnh, đón trăng thanh gió mát; bây giờ, cây cầu là điểm đến không thể thiếu được của khách thăm quan hồ Gươm. Xa xa, giữa hồ, trên gò Rùa, có một tòa tháp ba tầng một đỉnh; bé nhỏ, đơn sơ, phảng phất nét kiến trúc Âu – Á với những vòm cửa cuốn Gothic kết hợp mái đao đầu rồng uốn cong duyên dáng như góc đao đình thường thấy ở các làng quê. Khi xưa, người ta làm tháp để cho vua Lê Thánh Tông ra câu cá, gọi là “Điếu Đài”, rồi làm nơi hóng mát cho chúa Trịnh trong những ngày hè; bây giờ, dù chẳng có giá trị nhiều về kiến trúc nhưng gò tháp ấy đã trở thành một bộ phận hữu cơ của hồ Gươm, một phần của tâm hồn Hà Nội, của đất nước Việt Nam; chẳng thế mà phiên bản của nó tôi đã từng thấy ở không ít nơi như trên Hồ Nguyệt ở Hưng Yên, Hồ Gươm Xanh ở thành phố Hồ Chí Minh (thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương trước đây). Trên phố Đinh Tiên Hoàng còn có một tháp nhỏ Hòa Phong, dấu tích của một công trình phật giáo bên hồ còn xót lại. Tháp có dáng vuông vức, nhỏ bé với ba tầng, thu nhỏ dần lên trên phía ngọn. Đây là di tích cổ duy nhất còn sót lại của chùa Báo Ân, đồng thời cũng là chứng nhân lịch sử cho những thăng trầm của Thăng Long – Hà Nội bên hồ Hoàn Kiếm. Giản dị với những rêu phong, ngọn tháp bên hồ này cũng là một nơi hút hồn du khách. Bên bờ tường gạch thô mộc hay dưới vòm cửa cuốn cong cong đã có biết bao thiếu nữ thướt tha với tà áo dài miệt mài tạo dáng để ghi hình, chụp ảnh hòng lưu dấu một thời xuân thì giữa trái tim Thủ đô. Thế đấy, những công trình ở hồ Gươm tôi thấy đều bé nhỏ, xinh xinh; trang nhã, giản dị chứ không to lớn, đồ sộ, màu mè, kiểu cách. Nhưng tất cả rất hài hòa, duyên dáng. Chúng cùng nhau tôn thêm vẻ đẹp cho hồ nước xanh biếc linh thiêng và hào hoa. Hồ Gươm còn khá vẹn nguyên và ngày càng xinh đẹp hơn. Chỉ tiếc một điều duy nhất là hồ Gươm giờ đây đã vắng bóng cụ Rùa. Trước kia, nỗi khi Hà Nội có một sự kiện trọng đại nào đó sắp diễn ra thì cụ lại nổi lên: năm 2000, cụ nổi lên chào đón thiên niên kỷ mới; năm 2005, cụ nổi lên vào dịp kỷ niệm 60 năm ngày Quốc Khánh; năm 2006, cụ nổi lên vào dịp kỷ niệm 52 năm giải phóng Thủ đô và Hội nghị APEC; năm 2009, cụ nổi lên vào dịp kỷ niệm 55 năm giải phóng Thủ đô; năm 2010, cụ nổi lên liên tục như để chào đón Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Không biết duy lý có đúng không nhưng trong tâm thức người Hà Nội, người Việt Nam dường như người ta đều muốn tin vào sự linh thiêng ấy. Năm trước, Đại lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và ngày Quốc khánh người Hà Nội và khách thập phương không còn thấy bóng cụ. Tôi đi bên hồ mà lòng những bâng khuâng, đưa mắt nhìn về phía đảo Rùa và ngọn tháp, thầm mong có một phép màu nào đó xuất hiện để có thể lại được nhìn thấy một cụ rùa khác nổi lên. Hy vọng thế nhưng rồi cũng lại thất vọng nhiều. Tiếc thay, biết đến bao giờ Hồ gươm lại có bóng dáng cụ rùa !
Chiều nay, những giọt nắng cuối ngày theo ánh hoàng hôn vương trên mặt hồ như mang theo hương thơm dịu ngọt của hoa lá mùa thu khiến cho lòng người không khỏi nao nao những mến yêu, thương nhớ. Hồ Gươm bên tôi đẹp và thanh bình đến lạ. Mặt hồ xao động, đáy hồ lắng đọng. Hình như nhịp sống ồn ào, vội vã, tấp nập của phố phường thời hiện đại ở Thủ đô chưa đi qua chốn này? Không biết có phải yêu Hà Nội, yêu Hồ Gươm quá rồi mà tôi thấy thế chăng? Thú thực, hồ Gươm bây giờ đã trở thành một chốn bình yên. Trong mắt tôi, trái tim linh thiêng của nhịp đập ngàn năm dân tộc ấy đang lưu giữ biết bao nét đẹp của Thăng Long – Hà Nội mà chẳng nơi nào có thể có được: lộng lẫy nhưng rất đỗi dịu dàng; cổ kính, rêu phong mà không kém phần đài các, kiêu sa; trầm mặc trong những thanh bình … Và, nếu ai đó đã từng thấy rằng, mùa thu ở Hà Nội đẹp nhất thì chắc hẳn cũng phải thừa nhận rằng, hồ Gươm là một mảnh ghép hoàn hảo nhất cho bức tranh mùa thu Hà Nội. Chẳng biết có phải vì thế mà nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã phải thốt lên “Tôi muốn mang hồ Gươm đi” để rồi sau này được một người Hà Nội xa xứ (nhạc sĩ Phú Quang) cộng cảm, phổ thành một ca khúc cùng tên rất hay về Hà Nội. Thế đấy, yêu biết mấy chiều thu Hồ Gươm, mùa thu Hà Nội./.
Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Đào Thị Thu Hiền. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.