Lý luận - phê bình

Nguyễn Chính và những trăn trở “nắng đã qua thu”

Nhà thơ Quang Hà 08:06 26/05/2025

“Nắng đã qua thu” là tập thơ thứ 10 của nhà thơ Nguyễn Chính - hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành đầu năm 2025, với lời giới thiệu trang trọng, hấp dẫn của nhà thơ Đặng Huy Giang.

nang-da-qua-thu.jpg

Tập thơ gồm 2 phần “Con đường” (36 bài) và “Dòng sông” (35 bài) được kết nối chặt chẽ, tạo nên sự tác động qua lại, bổ sung và nâng đỡ nhau trong mạch cảm xúc và tư tưởng xuyên suốt. Trải dài 71 bài thơ là một Nguyễn Chính thi nhân nổi bật với những trăn trở tâm cảm không thể kìm nén của một cựu chiến binh từng trải cuộc đời quân ngũ, gợi cho người đọc những liên tưởng và suy cảm sâu lắng. Đó là những trăn trở về tình người và tình yêu quê hương, đất nước, về giá trị văn hóa và giá trị người cần nâng niu trân trọng giữ gìn và bảo trì trước những đổi thay của thời cuộc khi dân tộc ta bước vào thời kỳ hội nhập.

Một chiều cuối năm 2023, trong tiết trời giá lạnh, sau khi pha ấm trà hoa cúc “Nước một màu óng ánh như tơ”, trong “Dìu dịu một giấc mơ hoa”, Nguyễn Chính bỗng nghe văng vẳng bên tai tiếng “cúc gọi/ vỡ oà/ thu xưa”. Đó là tiếng gọi của “Nguyên hoa” - nguyên hồn hoa cúc, cũng là tiếng gọi của hồn thu đọng lắng trong tâm thức của thi nhân đa cảm đa tình. Cảm thức mùa thu ấy đã mang đến cho Nguyễn Chính một ý thơ đầy ý vị, để rồi một năm sau, mùa thu 2024, bài thơ “Thu qua” ra đời:

Thu qua đã quá nửa rồi
Phau phau tóc bạc thương hồi tóc xanh

Tóc xanh… lại thấy thương anh
Còn đâu cái thuở yến oanh bên đình

Con tim đập bất thình lình
Lá vàng xào xạc thương mình như cây.

Từ “Nguyên hoa” tiếng gọi lay thức tâm hồn của cúc, đến “Thu qua” với “Phau phau tóc bạc thương hồi tóc xanh” và “Còn đâu cái thuở yến oanh bên đình”, là sự vận động nối tiếp của tâm thức, tâm cảm, tâm tình để thấu nhận “Lá vàng xào xạc thương mình như cây”.

Phải chăng cái nỗi “thương mình như cây” ấy đã khởi phát trong tâm hồn nhà thơ những trăn trở khôn nguôi về cuộc đời, rộng hơn là về cõi người, những cái trôi qua, vụt biến, tưởng như không thể níu giữ? Tôi đồ rằng, “Nắng đã qua thu” của Nguyễn Chính là sự trăn trở của ông về cái nắng đó. Lẽ nào cái nắng trong sáng, dịu dàng, thuần khiết “Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới” (Nguyễn Đình Thi), lại có thể dễ dàng bị thời gian phũ phàng bào mòn và mai một trong lòng người?

Muốn giữ lại cái nắng thu đó, con người cần một điểm tựa xác định, một điểm trụ vững vàng, chứ không thể ở trong trạng thái “bồng bềnh”, “bông bênh” không có chỗ để bấu víu: “Lẫn vào mây trắng bồng bềnh/ Bồng bềnh lại thấy bông bênh đêm ngày/ Vội vàng dang rộng hai tay/ Nào đâu trời đất? Vẫn mây bồng bềnh!”. Và cũng không khác gì con người ở trạng thái: “Chơi vơi/ hứng/ hạt/ mưa rơi”, trong hoàn cảnh “Giọt gianh/ nào thấy/ giữa trời/ xòe tay”, thì chắc chắn sẽ “Nắm sao/ được/ hạt/ mưa bay”, tất yếu dẫn đến kết cục là “Cứ tan/ tác/ vỡ / những ngày/ đã qua”. Đây là trăn trở tích cực gợi mở cho người đương thời và thế hệ mai sau làm thế nào để cái nắng thu ấy, để “những ngày đã qua” một quá vãng hào hùng và bi tráng ấy tồn tại trong kho báu tinh thần dân tộc, không bị “vỡ” và “tan tác” như “hạt mưa bay” giữa trời.

“Xuân trên cao tốc” là nỗi lòng Nguyễn Chính với câu kết mở ra một trường cảm xúc đầy ấn tượng:

Nỗi lòng ai đấy mấy mươi năm
Còn được gặp nhau lính Trường Sơn
Ba lô, cây gậy thêm thương nhớ
Nước bốn ngàn năm trên đôi chân.

Đó là đôi chân Phù Đổng, đôi chân Hai Bà Trưng, đôi chân “Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào Cửa Bắc/ Hưng Đạo Vương dìm quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng - Chế Lan Viên” và đôi chân anh Giải phóng quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước “Anh đi xuôi ngược tung hoành/ Bước dài như gió lay thành chuyển non - Tố Hữu”. Nguyễn Chính trăn trở về đôi chân ấy, đôi chân vạn dặm “chân cứng đá mềm” lập nên biết bao kỳ tích trong lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc liệu sẽ tiếp tục được giữ vững và phát triển lên tầm cao mới như thế nào trong thời đại mới, giữa một thế giới đầy biến động và bất trắc khôn lường. “Nước bốn ngàn năm trên đôi chân” vừa là sự khẳng định đối với quá khứ, vừa là một đòi hỏi đối với tương lai, đồng thời cũng là mong muốn và hy vọng của các thế hệ đi trước dành cho các thế hệ đến sau.

Trong “Chiến tranh chưa phai”, Nguyễn Chính như nhập thân vào “áo màu cỏ úa” của “Người đi mang cả đất trời/ Để người ở lại giữ lời - sao đang?”. Đến ngày chiến thắng, “Người đi đi mãi… đời trai” để người ở lại “Áo màu cỏ úa đường dài còn mang…”. Đó là nỗi đau của “Chiến tranh chưa phai”, sự mất mát không gì có thể bù đắp nổi. Trước mất mát đó, từ đáy lòng mình, Nguyễn Chính bật lên một câu hỏi nghẹn lòng:

Hôm nay cờ đỏ sao vàng
Bay tràn ngập phố ngút ngàn tháng Tư
Áo màu cỏ úa trầm tư
Màu cờ đỏ ấy đỏ từ máu ai?.

Sự trăn trở về “Màu cờ đỏ ấy” nhắc nhở chúng ta phải luôn trân trọng, biết ơn trước những hy sinh xương máu vì độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ của lớp lớp cha anh trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.

“Bóng người thân” là niềm trăn trở của Nguyễn Chính trước sự thay đổi đến chóng mặt của làng quê trong thời mở cửa:

Có một làng quê rợp bóng
Ngày ngày như đón tôi về
Lặng thầm mẹ tôi ra đón
Con trai đừng có vấp chân!.

Bây giờ trở về làng, thì những cái thân thương nhất đã không còn:

Giờ về bâng khuâng lối xóm
Nâu trầm đã phủ bê tông
Mẹ tôi cũng không còn nữa
Cả tre và bóng người thân!

Một khi “bóng người thân” không còn thì hồn cốt làng cũng dường như tan biến. Đó là một cảnh tỉnh về văn hóa tâm linh mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Thơ Nguyễn Chính thiên về chiều sâu nội dung hơn là hình thức, nhất là trong thể thơ tự do, ông không quá câu nệ vào vần luật hay nhịp điệu. Tuy nhiên, ông biết thổi hồn vào những từ ngữ dân dã, quê kiểng, đưa chúng vào những tứ thơ giàu cảm xúc, đúng như Pautopxki đã từng nói: “Các nhà thơ đã làm cho những chữ khô giòn, xơ xác tỏa hương”. Chính vì vậy “Nắng đã qua thu” có sức gợi mở mạnh mẽ, khơi dậy trong người đọc những liên tưởng và cảm nhận sâu xa ở phần hồn của ý thơ và tình thơ. Như trong bài thơ “An ủi”, ông viết:

Hỡi ôi thập loại chúng sinh
Thơ mình đâu dễ là mình được đâu
Viết về nhau, viết cho nhau
Bạn bè thích một đôi câu là mừng.

Với những trăn trở sâu sắc về tình người và tính nhân văn, tôi tin chắc chắn “Nắng đã qua thu” của Nguyễn Chính sẽ nhận được sự đồng cảm và chia sẻ từ nhiều bạn đọc./.

Bài liên quan
  • Tình đất đai xứ sở ngả bóng trong văn chương
    Ngày 20/7/1954, Hiệp định Genève được ký kết, nước ta tạm thời chia cắt làm hai miền và 21 năm sau (năm 1975) mới tái thống nhất. Tình cảm ấy ngả bóng vào văn chương tạo nên một không gian cảm xúc trùng điệp nỗi nhớ thương đất đai sông núi, chưa từng có trong tiến trình văn chương nước nhà, cả văn xuôi lẫn thơ.
(0) Bình luận
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Đêm Hà Nội và những thanh âm của thành phố
    Hà Nội thường được nhớ đến với vẻ đẹp cổ kính của ba mươi sáu phố phường, với những mái ngói rêu phong, hồ nước xanh trong và nhịp sống mang dáng vẻ thanh lịch của người Tràng An. Nhưng khi màn đêm buông xuống, thành phố lại khoác lên mình một diện mạo khác: vừa sâu lắng mà cũng vừa sống động hơn...
  • [Podcast] Tản văn: Hương sen vương vấn sợi trà
    Những ngày còn công tác ở Hà Nội, ông ngoại tôi đã xin được giống sen Hồ Tây về trồng trong đám ruộng lầy cải tạo thành ao, bờ mòn dần hóa thành đầm sen đầu tiên ở bản. Những nhà hàng xóm ngắm bông sen to, đẹp thơm ngát một vùng thì đến xin vài ngó già.
  • Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI thành công tốt đẹp
    Sau 2,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, đổi mới, sáng tạo; Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 diễn ra tại Thủ đô Hà Nội, đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình và Đại hội bế mạc vào sáng 13/5.
  • Hà Nội thúc đẩy mô hình tăng trưởng mới, quyết liệt tháo gỡ các “điểm nghẽn” phát triển
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Thông báo số 413-TB/TU ngày 08/5/2026 thông báo kết luận tại Hội nghị Ban Thường vụ Thành ủy ngày 07/5/2026 về nhiều nội dung quan trọng liên quan đến đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển nhà ở xã hội, khu công nghiệp, logistics và các cơ chế, chính sách trình HĐND Thành phố.
  • Tăng cường đồng thuận xã hội để thúc đẩy Dự án Khu đô thị thể thao Olympic
    Thường trực Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Công văn số 657-CV/TU ngày 13/5/2026 về tăng cường tuyên truyền, vận động thực hiện Dự án Khu đô thị thể thao Olympic. Thành phố yêu cầu đổi mới công tác tuyên truyền theo hướng thiết thực, lấy người dân làm trung tâm; đồng thời tập trung tháo gỡ các khó khăn về quy hoạch, cơ chế, chính sách, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của Nhân dân và thúc đẩy tiến độ triển khai dự án.
Đừng bỏ lỡ
Nguyễn Chính và những trăn trở “nắng đã qua thu”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO