Tấm bia tiến sĩ đầu tiên và bài ký của Thân Nhân Trung

Trần Văn Mỹ| 20/11/2021 08:40

Tấm bia tiến sĩ đầu tiên và bài ký của Thân Nhân Trung

Nhằm kén chọn được hiền tài, ngay từ thời Lê Thái Tổ, vua đã xuống chiếu cho thiên hạ xây nhà học. Trong kinh đô có Quốc Tử Giám. Các quan trong triều ngoài nội được chọn con cháu và thường dân tuấn tú vào làm học sinh ở Nhập thị, Cận thị, Ngự tiền và Giám sinh Quốc Tử Giám. Lại quy định lệ xướng danh, treo bảng vàng, ban mũ áo, cấp ngựa, ăn yến và lệ vinh quy để đề cao khoa cử và làm nức lòng kẻ sĩ. Mười bốn năm sau ngày cuộc kháng chiến chống Minh toàn thắng, triều Lê sơ mở khoa thi hội đầu tiên, năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), 450 người ứng thí, 33 người trúng cách. Ngày 2 tháng 2, vua ngự ở điện Hội Anh thân hành ra đề và lấy Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Trần Thuấn Du độc quyển rồi đệ lên vua xem xét. Vua lấy Nguyễn Trực, người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai, đỗ Trạng nguyên; Nguyễn Như Đổ, người làng Đại Lan, nay thuộc xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì đỗ Bảng nhãn khi 18 tuổi; Lương Như Hộc, người làng Hồng Liễu, huyện Thường Tân, Hải Dương đỗ Thám hoa… Đặc biệt, từ khoa thi này, triều Lê định lệ, những người đỗ tiến sĩ được khắc tên vào bia đá, đặt tại Văn Miếu để lưu danh. Nhưng 42 năm sau, vào năm Hồng Đức thứ 15 (1484), dưới thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) việc này mới được thực thi.
Trong 82 tấm bia còn đến ngày nay, tấm sớm nhất dựng năm 1484, khắc tên các tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442), tấm cuối cùng dựng năm 1780 khắc tên các tiến sĩ đỗ khoa Kỷ Hợi (1779). Tính từ khoa Nhâm Tuất tới khoa thi cuối cùng Đinh Mùi (1787), theo đúng lệ khoa cử triều Lê thì phải có 117 tấm bia. Thế nhưng, đến nay, sau nhiều cuộc biến đổi, số bia chỉ còn 82 tấm. Tháng 4/1976, Viện Khảo cổ học Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa Hà Nội tổ chức khai quật lòng giếng và đã tìm thấy một con rùa đá làm đế bia nằm sâu dưới lòng hồ cạnh Khuê Văn Các. Thân bia chưa thấy song các con rùa đế bia đã nâng số bia tiến sĩ lên 83.

Để che mưa nắng, người xưa đã dựng nhà bia. Lần tu sửa nhà bia cuối cùng vào năm Tự Đức thứ 16 (1863). Hồi đó, Bố chính Hà Nội Lê Hữu Thanh cùng với Tổng đốc Hà-Ninh (Hà Nội – Ninh Bình) Tôn Thất Hân và Án sát Hà Nội Đặng Tá khởi xướng việc thu thập các bia tản mát dựng vào bên phải và bên trái giếng Thiên Quang, khoảng giữa Khuê Văn Các và cổng Đại Thành, mỗi bên 41 tấm dựng thành hai hàng ngang, mặt bia đều quay về phía giếng. Lại dựng hai nhà bia, mỗi nhà 11 gian.

Cả hai bên, giữa mỗi vườn bia xây một tòa đình vuông 5m, nền cao, 4 mặt để trống, cửa trước trông thẳng xuống giếng. Xưa kia, xuân thu nhị kỳ, trong Văn Miếu tế lễ thì tại đình bia cũng sửa lễ vật cúng các bậc tiên nho.

Giờ đây, ai có dịp vào thăm Văn Miếu đều thấy vườn bia tiến sĩ có giá trị bậc nhất ở khu di tích đặc biệt này. Qua hình khối, nét chạm tinh xảo, mỗi tấm bia là một tác phẩm điêu khắc. Mỗi bài ký khắc trên bia là một áng văn chương phản ánh sinh động lịch sử, văn hóa và giáo dục của quốc gia Đại Việt trải dài hơn 300 năm. Nội dung các bài ký này đều do các bậc đại danh nho, tài cao đức trọng soạn. Chính vì lẽ đó, ngày 9/3/2010, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã ra nghị quyết công nhận 82 tấm bia tiến sĩ Văn Miếu, Hà Nội là Di sản Tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới.

Tại đình bia bên phải, chính giữa có đặt một tấm bia tạo năm Hồng Đức thứ 15 (1484) đời Lê Thánh Tông. Bia một mặt, khổ 102x107cm. Diềm bia chạm mặt trời, mây và hoa lá. Toàn văn chữ Hán, khắc chân phương, gồm 49 dòng khoảng 1950 chữ. Bia dựng cách nay 537 năm, còn khá nguyên vẹn, hiện là tấm bia cổ nhất của Hà Nội. Tác giả bài ký khắc trên tấm bia đầu tiên tại Văn Miếu là Thân Nhân Trung (1418 - 1499) tự là Hậu Phủ, quê làng Yên Ninh, huyện Yên Dũng, trấn Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Giang. Năm 1469, ông đỗ Hội nguyên. Sau đó ông làm quan ở nội triều, trải đến chức Tế tửu Quốc Tử Giám, Đại học sĩ Đông Các, kiêm coi Viện Hàn lâm, Thượng thư Bộ Lại. Ông nổi tiếng văn chương, được Lê Thánh Tông tin dùng và thường cho vào hầu văn bút. Thân Nhân Trung tham gia biên soạn Thiên nam dư hạ tập và viết lời tựa ở đầu bộ sách. Khi thành lập Hội Tao đàn, Lê Thánh Tông ban hiệu cho ông là Tao đàn phó súy. Nhà vua mất, ông được đặc cử soạn bài minh khắc vào bia đá đặt ở Chiêu Lăng, Lam Kinh, Thanh Hóa. Do có văn tài, ông được Lê Thánh Tông sai soạn bài ký khắc lên tấm bia tiến sĩ đầu tiên. Phần chính bài ký như sau:

“Nay thấy khoa thi từ niên hiệu Đại Bảo thứ 3 về sau, việc dựng đá đề danh còn thiếu, bọn Quách Đình Bảo, Thượng thư Bộ Lễ kính vâng lệnh trên đem những người đỗ, theo thứ bậc khắc vào bia và xin đổi Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa làm Tiến sĩ cập đệ, đổi phụ bảng thành Đồng tiến sĩ xuất thân, theo thể chế mới, vua cho lời tâu là đúng, sai bọn Thân Nhân Trung chia nhau làm bài ký.

Kẻ bề tôi này kính vâng lời thánh, vui mừng khôn xiết. Nghĩ rằng: việc dựng bia một khi được cử hành thì ý tốt cầu hiền tài, mưu thịnh trị của thánh tổ thần tông được lưu truyền lâu dài. Đó chính là phép lớn rèn giũa người đời và là may mắn cho Nho học.

Tôi dẫu nông cạn vụng về, nhưng đâu dám từ chối, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài ký rằng:

Hiền tài là nguyên khí (1) của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn(2), danh hiệu Long hổ(3), bầy tiệc Văn hỷ(4). Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.

Nay thánh minh lại cho rằng chuyện hay việc tốt có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên lại dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền quan (5) khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Há chỉ là chuộng văn suông, ham tiếng hão mà thôi đâu.

Ôi, kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh, phận thật nhỏ mọn mà được triều đình đề cao rất mực như thế, thì họ phải làm thế nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp?

Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại. Có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu bị ngăn chặn, đâu còn dám nảy sinh như vậy được? Thế thì việc dựng tấm đá này ích lợi rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để cố mệnh mạch cho Nhà nước. Thánh thần đặt ra đâu phải là vô dụng. Ai xem bia nên hiểu ý sâu này” (Theo bản dịch Tuyển tập văn bia Hà Nội - NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1978).

Thân Nhân Trung là nhà văn hóa lớn. Ông qua đời được 300 năm thì vào năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776), Bùi Huy Bích, Ngô Thì Nhậm, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, Võ Huy Tần, một lần có việc đi qua làng Yên Ninh, gặp trời mưa to phải ngủ lại, bèn hỏi thăm đến con cháu cụ thì tìm được một cụ già. Hỏi, cụ trả lời rằng, cụ có ông tổ xa đời là Thân Nhân Trung, làm Tao đàn phó nguyên súy. Hỏi đến phả hệ, hành trang cụ đều không biết đến. Các ông muốn tỏ ý đến đền thờ và phần mộ Thân Nhân Trung để thắp hương nhưng đền thờ đã không còn, phần mộ cũng không biết ở chỗ nào nữa (Theo Lam Giang).

Giờ đây, đất nước này, sau hơn năm thế kỷ, trải bao cuộc bể dâu, phần mộ Thân Nhân Trung không biết nằm ở nơi nào, nhưng tấm bia tiến sĩ đầu tiên, văn do ông soạn, không chỉ là tuyên ngôn của giới trí thức đương thời mà còn giữ nguyên tính thời sự, tồn tại mãi với hôm qua, hôm nay và ngày mai: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia…”. Lời văn này thường xuất hiện trong các diễn văn của các nguyên thủ nước ta khi nói và bàn về chiến lược giáo dục, các chữ này còn được đắp nổi tại nơi trang trọng của các trường đại học và đặc biệt văn bia ông soạn đã được UNESCO lưu giữ, công nhận là tài sản của nhân loại. Đó là tượng đài vĩnh cửu của Thân Nhân Trung.

Tấm bia tiến sĩ đầu tiên và bài ký của Thân Nhân Trung
Đình bia bên phải giếng Thiên Quang, nơi đặt tấm bia tiến sĩ đầu tiên, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442).
.....................................................
Chú thích:
1-Nguyên khí: Chỉ sức sống của đất nước, của dân tộc.
2-Tháp Nhạn: Tên tháp ở một ngôi chùa, người đỗ tiến sĩ được ghi tên lên tháp.
3-Long hổ: Người đương thời gọi bảng tiến sĩ ghi tên họ là “Long hổ bảng”.
4-Văn hỷ: Tên bữa tiệc mừng người mới thi đỗ.
5-Hiền quan: Chỉ Quốc Tử Giám.
(0) Bình luận
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
  • Ngựa trong đời sống Thăng Long - Hà Nội
    Hà Nội có 5 địa danh gắn với chữ Mã là phố Kim Mã, hồ Mã Cảnh, phố Hòa Mã, phố Hàng Mã và đền Bạch Mã. Tuy nhiên, chữ Mã với nghĩa là ngựa thì chỉ có Kim Mã, Mã Cảnh và Bạch Mã. Tuy nhiên Bạch Mã với nghĩa ngựa trắng chỉ là truyền thuyết, còn chữ Mã trong Hàng Mã và Hòa Mã là chữ Nôm chỉ đồ cúng tế, quần áo mặc khi làm lễ.
  • Phường Hoàn Kiếm: Dâng hương kỷ niệm ngày hóa của Đức Hỏa Thần
    Sáng 17/11/2025, tại đền Hỏa Thần (số 30 Hàng Điếu, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội), Đảng ủy, HĐND, UBND, UB MTTQ phường Hoàn Kiếm phối hợp cùng Ban Quản lý hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội, Tiểu ban quản lý di tích Đền Hỏa Thần và nhân dân địa phương long trọng tổ chức lễ dâng hương kỷ niệm ngày hóa Đức Hỏa Thần.
  • Đồ chơi Trung thu Hà Nội xưa: Từ ký ức đến hành trình tiếp nối
    Rằm tháng Tám, tiếng trống hội, đèn ông sao, mùi bánh nướng, bánh dẻo… như đánh thức ký ức tuổi thơ trong mỗi người. Với trẻ nhỏ, Trung thu là đêm hội rước đèn, phá cỗ dưới trăng, còn với người lớn, đó là dịp trở về miền ký ức với những món đồ chơi dân dã. Năm nay, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam mang đến cho công chúng một trải nghiệm đặc biệt qua không gian nghệ thuật sắp đặt “Sắc Thu” (diễn ra từ 4/10 và kéo dài đến 4/11/2025). Trong không gian ấy, có nhiều đồ chơi truyền thống gắn với các làng nghề Hà Nộ
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
Tấm bia tiến sĩ đầu tiên và bài ký của Thân Nhân Trung
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO