Lý luận - phê bình

Thơ Lữ Hồng - vị buồn dưới một đồng cỏ thơm

Hương Giang 14:13 15/06/2025

Tình yêu trong thơ Lữ Hồng không ồn ào hay cháy lửa. Nó là thứ tình thì thầm, âm ỉ từ bên trong, càng đọc càng cảm nhận được sự đằm sâu, nồng nàn và chân thật. Đó không chỉ là cảm xúc của một cô gái trẻ lần đầu biết yêu mà là tâm hồn của người phụ nữ đã trải qua những mất mát thấu hiểu lặng im và khát vọng được yêu trọn vẹn.

tap-tho-_o-cua-van-sang-den_-cua-lu-hong-1-.jpg

Một mai thức dậy
Đi trọn kiếp người
Xin là thạch thảo
Tím hoài khôn nguôi.
(Một mai thức dậy)

Có những hồn thơ đến với đời như một làn hương nhẹ, không ồn ào, không giông bão nhưng đủ sức khiến người đọc dừng lại, lắng nghe và lay động mãi trong tâm tưởng. Lữ Hồng là một hồn thơ như thế - trong trẻo mà đằm sâu, dịu dàng mà gan ruột, mong manh mà kiên cường. Thơ cô là thứ ánh sáng dịu của buổi sớm, chiếu xuống cánh đồng ký ức, nơi những khát khao day dứt, những mộng mị yêu thương và chiêm nghiệm sinh tử cùng tồn tại. Với hành trình sống gần mười năm cùng căn bệnh ung thư, Lữ Hồng vẫn viết như một cách yêu đời đến tận cùng, gửi lại trong từng con chữ một niềm sống, một nỗi buồn trong vắt - “vị buồn dưới một đồng cỏ thơm”.

nha-tho-tre-lu-hong.jpg

Trong một lần chia sẻ về trách nhiệm và khát vọng của người làm thơ, Lữ Hồng từng tâm sự: “Tôi mong, rất mong bản thân sẽ nối dài niềm tin với thơ ca chân chính, dẫu đó có là những nỗi buồn đẹp mênh mang. Hy vọng mình đủ sức khỏe, đủ năng lượng và nguồn cảm hứng để viết được một bài thơ đậm đầy hơi thở của cuộc sống, không chỉ là đời sống rộn rã ngoài kia mà còn là đời sống bên trong mình, những gì thẳm nhất và thật nhất”. Có lẽ đó không chỉ là lời tự sự mà còn là tuyên ngôn thi ca của một tâm hồn thơ mộng giữa nghịch cảnh.

Tình yêu đằm thắm theo thời gian, nồng nàn trong im lặng

Tình yêu trong thơ Lữ Hồng không ồn ào hay cháy lửa. Nó là thứ tình thì thầm, âm ỉ từ bên trong, càng đọc càng cảm nhận được sự đằm sâu, nồng nàn và chân thật. Đó không chỉ là cảm xúc của một cô gái trẻ lần đầu biết yêu mà là tâm hồn của người phụ nữ đã trải qua những mất mát thấu hiểu lặng im và khát vọng được yêu trọn vẹn.

Trong bài thơ “Không tên”, Lữ Hồng viết:

Hơn một người đàn ông/ luồn tay vào kẽ tóc/ sao chiều nay gió mỏng/ em lại nhớ về anh.

Nỗi nhớ không gọi tên nhưng da diết như một bản nhạc không lời. Tình yêu trong cô không chỉ là những lần vụng dại, mà là những lần vượt qua vụng dại để vẫn tin, vẫn mơ: Hơn một lần anh hát/ thêm một lần em tin/ quên hết thế nhân tình/ đang chực ngày nổi bão.
Tình yêu ấy, đôi khi hóa thân thành ký ức: Phố không còn mùa nhớ/ Ký ức giờ bỏ hoang (Phố)

Phố - nơi yêu thương cũ tan vào thời gian, để lại khoảng trống thảng thốt trong lòng.

Và khi yêu thương không còn là hiện hữu, Lữ Hồng vẫn biết cách tiễn biệt bằng một sự an nhiên mà nghẹn ngào:

Em sẽ tiễn anh như thơ tiễn mùa thu/ như thể mình chưa từng có ngày vì nhau mà thở/ (...)/ ngày vén tóc thương anh là ngày nổi gió/ trời có xanh đâu mà bắt cỏ phải mềm. (Em sẽ tiễn anh như thơ tiễn mùa Thu)

tap-tho-_o-cua-van-sang-den_-cua-lu-hong.jpg

Và một nỗi đau tình yêu khác lặng lẽ hiện diện: Những nỗi đau cháy tàn/ anh trốn sau mùa lá buốt/ Ngày đi vào lòng phố/ ta đóng rêu trong mỗi ánh nhìn/ Sự hiện diện của mình chỉ làm chiều thêm vắng. (Thêm một lần phố vắng)

Ở đây, tình yêu là một nỗi thổn thức âm thầm, một hiện diện nhỏ nhoi giữa không gian rộng lớn của cô đơn. Thơ tình của Lữ Hồng không cần tuyên ngôn, nó chảy lặng nhưng khi đọc vào thì day dứt khôn nguôi. Day dứt mình, day dứt những quá khứ của mình, cái từng thuộc về mình, cháy tàn. Với cách sử dụng nhiều hình ảnh trữ tình gợi cảm, tiết chế ngôn từ mà gợi mở cảm xúc đã nhiều phần làm nên nét đẹp thầm lặng và bền vững trong thơ tình của cô.

Những bài thơ đượm vị tình yêu của Lữ Hồng luôn giàu cảm xúc nội tâm, thường mang dáng dấp của lời độc thoại. Chọn thơ tự do, có lẽ bởi lẽ đó, dễ trải lòng.

Sự dịu dàng của mẹ giữa mưa gió cuộc đời

Giữa miền cao nguyên khắc nghiệt, trong những năm tháng sống với căn bệnh quái ác, hình ảnh người mẹ trong thơ Lữ Hồng hiện lên như cội gốc của yên bình, nơi cô trở về để ủ mình vào những yêu thương không lời: À ơi/ tóc Mẹ bầm sương/ chái bếp lạnh đau/ ai mồ côi đốm lửa. (Một khúc à ơi)

Chỉ một đốm lửa nơi bếp lạnh cũng đủ để ta thấy cả một đời mẹ. Cái lạnh của đời, của bệnh tật, của mưa gió vùng cao như dịu lại bên bếp lửa mẹ nhen. Mẹ là hơi ấm, là người nhóm lên sự sống, là ánh sáng duy nhất giữa lạnh đau. Và cô, như bao đứa trẻ, sợ nhất là mồ côi “đốm lửa” ấy.

Mẹ trong thơ không chỉ là người sinh thành mà còn là gương mặt của ký ức, là nơi trú ngụ, là bóng hình thiêng liêng của thời thơ dại: Chạng vạng lòng Cha/ tinh mơ tiếng Mẹ/ tôi cọ mình nương náu/ bốn vách nhà thưng ván những ngày xưa. (Tự khúc)

Và cả trong giấc chiêm bao, mẹ vẫn là điểm tựa sâu kín nhất: Chiêm bao/ con về ủ mình trong tay Mẹ/ những đau đớn ân cần. (Mẹ và tháng Ba)

Thật lạ khi đau đớn lại được mô tả là “ân cần”. Có lẽ bởi trong vòng tay mẹ, mọi thứ dẫu có là đau, cũng mang tình yêu. Cái “ủ mình” ấy là hành động trở về bản nguyên, nơi sự sống bắt đầu và cả nơi sự sống được xoa dịu. Người mẹ hiện lên không mang âm thanh, không nhiều hình ảnh trực tả, nhưng lại là vầng sáng dịu dàng, ấm áp bao trùm lên đời sống của cô, là suối nguồn yêu thương thầm lặng.

Trong bài thơ “Phía trong thành phố”, hình ảnh mẹ tiếp tục là cội nguồn thổn thức giữa những chuyển động chật chội của đời sống đô thị: “bầu trời không còn ngôi sao chiếu mệnh đêm qua/ ta gõ mấy dòng cho buổi sớm đầu tiên/ như cổ tích rã rời tiếng chuông ngày hội/ không có gì là thật/ hơn nỗi tê cóng lúc mẹ trở về”. Đó là nơi của ký ức, của một lối nhỏ không tên, không đèn xanh đèn đỏ, không tiếng còi xe… chỉ có bước chân nỗi nhớ. Thành phố rộng lớn, nhưng trái tim người con vẫn khắc khoải một lối đi riêng dành cho tình mẹ. Và cũng chính nơi ấy, cô gửi gắm nỗi buồn nhân thế bằng thứ hình ảnh giản dị mà ám ảnh: “vì không đủ tuổi để hiểu về Mẹ và tiếng rao sương/ nên để rơi giọt thủy tinh màu đỏ”. Tiếng rao sương, tiếng rao lạnh, mơ hồ... tất cả đều được cô gom nhặt, chắp vá bằng thơ, như người con âm thầm vá lại chiếc áo cũ mẹ từng mặc. “Giọt thủy tinh màu đỏ” là một hình ảnh vừa đẹp, vừa đau. Đó là giọt nước mắt lặng, trong veo, đẫm máu. Cô hiểu rằng mình chưa từng hiểu mẹ đủ, chưa từng sống thay mẹ đủ, chưa từng nắm được cái rét mẹ chịu, cái “tiếng rao ba mươi năm nghe vẫn lạ” ấy nhưng mẹ không ở đâu xa, mẹ trú ngụ trong thơ và trong từng bước chân, từng ánh mắt, từng dòng ký ức cô, để một người con có thể “rúc mình” lại trước, trong và sau những lần đổ vỡ.

Đối thoại với thơ bằng những tâm tư rụi cháy

Nếu những bài thơ tình của Lữ Hồng âm ỉ một niềm yêu, những bài thơ viết về mẹ như dòng nước mát lành chảy ngược về nguồn thì phần sâu thẳm nhất trong thơ cô lại là những cuộc độc thoại âm thầm giữa bản thể và số phận. Ở đó, Lữ Hồng không chỉ là thi sĩ, cô còn là nhân vật trữ tình đầy cô độc, soi chiếu chính mình trong gương soi của thi ca, như một kẻ hành hương tìm về ánh sáng bằng con đường của lửa - thứ lửa rụi cháy và thanh lọc linh hồn.

Trong bài “Một mùa xuân nữa lại rời đi nhân lúc ta nằm ngủ”, Lữ Hồng viết: Ai đốt lò trong đêm/ cho khói ngả say say vàng men cũ/ một mùa xuân nữa lại rời đi nhân lúc ta nằm ngủ/ bỗng khát trăng như thi sĩ khát cô đơn

Từng câu chữ trong thơ Lữ Hồng như một lời thổ lộ với chính mình. Cô không chỉ tạo ra những hình ảnh tuyệt đẹp mà còn đặt những câu hỏi về đời sống, về sự tồn tại, về những cảm xúc mãnh liệt không thể bày tỏ bằng lời. Đó là một cuộc đấu tranh nội tâm, khi cái đẹp và nỗi cô đơn hòa quyện, khi thơ ca là cứu rỗi cho linh hồn con người. Đêm chữ nghĩa trụi trần/ bài thơ xoàng tôi không bán được/ mọt gỗ từng câu (Tự khúc)

“Trụi trần”, “xoàng”, “mọt gỗ”... những từ ngữ như đang tự phủ định mình nhưng kỳ thực đó là tiếng nói của chân thành, của dũng cảm. Cô không tô vẽ thơ mình vì cô đang sống trong nó: ta kín kẽ cười/ trong những góc vuông không lối thoát (Viết trong chiều gió rít đuổi mưa)

Cái “cười” ấy không phải niềm vui mà là sự chịu đựng. “Những góc vuông không lối thoát” là hình ảnh rõ ràng nhất cho sự tù túng nội tâm. Cô viết thơ để lặng im mà nói, để trong “góc vuông” tự cất lời. Vậy mà vẫn tìm được một lối đi thật can đảm trong chữ nghĩa: thôi thì viết một câu thơ làm chứng/ rằng ta đã tự mềm môi (Một mùa xuân nữa lại rời đi nhân lúc ta nằm ngủ). Câu thơ không cần tuyên ngôn. Nó chỉ là “làm chứng” - chứng rằng cô đã sống thật, yêu thật, đau thật, và biết tự “mềm môi” - tự tha thứ, tự dịu đi, tự làm lành với mình để mở ra những cơ hội: Tôi thổi tắt nến để ước mơ được sáng hơn/ ước mơ là những câu hỏi nối dài trong giấc ngủ/ trang thơ còn nguyên vẹn/ tôi đã mất điều gì (Thì thầm)

Bóng tối không giết được ước mơ. Thậm chí, tắt nến đi, ước mơ có khi còn sáng hơn bởi nó đến từ sâu thẳm của lòng. Nhưng nỗi day dứt lại nằm ở chỗ: “trang thơ còn nguyên vẹn” - mà “tôi đã mất điều gì”? Đó là nỗi hoài nghi đầy chất thơ và cũng đầy sự thật.

Thơ Lữ Hồng là những cuộc đối thoại liên tục với chính mình và với thế giới. Mỗi câu thơ là một bản trường ca của sự sống và cái chết, của nỗi đau và hy vọng. Những bài thơ của cô luôn ngập tràn cảm xúc và là sự thăng hoa của một tâm hồn thanh khiết, mạnh mẽ. Bởi vậy càng đọc thơ Lữ Hồng, người ta càng nhận ra: trong cô, thơ không phải là điều đến sau cuộc đời mà là một phần của nó như hơi thở, như vết thương, ánh mắt.

Giữa bao âm vang thi ca hôm nay, thơ Lữ Hồng không ồn ào nhưng lưu dấu sâu, không rực rỡ nhưng dài lâu như hương thạch thảo - một vị buồn dưới một đồng cỏ thơm, khiến người ta mỗi lần đọc lại đều muốn cúi đầu, lắng nghe và nhớ mãi./.

Bài liên quan
  • Tình đất đai xứ sở ngả bóng trong văn chương
    Ngày 20/7/1954, Hiệp định Genève được ký kết, nước ta tạm thời chia cắt làm hai miền và 21 năm sau (năm 1975) mới tái thống nhất. Tình cảm ấy ngả bóng vào văn chương tạo nên một không gian cảm xúc trùng điệp nỗi nhớ thương đất đai sông núi, chưa từng có trong tiến trình văn chương nước nhà, cả văn xuôi lẫn thơ.
(0) Bình luận
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Bản giao hưởng mùa hạ của phố phường Hà Nội
    Tháng Năm chạm ngõ, khi cái nắng đầu hạ bắt đầu trải nhẹ trên từng góc phố, cũng là lúc hoa bằng lăng tím bừng nở, nhuộm một sắc mơ màng khắp các con đường Hà Nội. Không rực rỡ như phượng đỏ, không ngào ngạt như hoa sữa tháng 10, bằng lăng mang một vẻ đẹp dịu dàng như chính nhịp sống của thành phố ngàn năm tuổi.
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Khởi động cuộc thi toàn quốc lan tỏa lối sống xanh và năng động cho học sinh tiểu học
    Trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và công ty Nestlé Việt Nam về xây dựng lối sống năng động, tích cực cho học sinh tiểu học, cuộc thi toàn quốc “Lối sống xanh - Đại sứ năng động bảo vệ môi trường” đã chính thức được phát động với sự đồng hành và phối hợp của Báo Thiếu niên Tiền phong và Nhi đồng.
  • Xây dựng đội ngũ cán bộ Thủ đô đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới
    Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội vừa ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 05/5/2026 về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở nhiệm kỳ 2025 - 2030 và những năm tiếp theo. Nghị quyết thể hiện quyết tâm chính trị cao của Thành phố trong xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, tư duy đổi mới và khả năng kiến tạo phát triển, đáp ứng yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô trong giai đoạn mới.
Đừng bỏ lỡ
  • Bổ sung thủ tục hành chính lĩnh vực Điện ảnh thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội
    Trung tâm phục vụ hành chính công Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 630/QĐ-TTPVHCC về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung lĩnh vực Điện ảnh thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội.
  • [Infographic] Nhiều chương trình hấp dẫn tại Festival Thăng Long-Hà Nội 2026
    Trong nỗ lực khơi dậy nguồn lực văn hóa của Thủ đô, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội tổ chức Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow", dự kiến diễn ra từ ngày 11-20/9/2026 tại nhiều không gian văn hóa - di sản tiêu biểu của Thủ đô.
  • Trao giải và khai mạc triển lãm tranh cuộc thi “Di sản trong mắt em” 2026
    Cuộc thi “Di sản trong mắt em” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vinh danh nhiều họa sĩ nhí với các tác phẩm sáng tạo về di sản văn hóa Việt Nam. Hơn 400 bức tranh từ thiếu nhi trong và ngoài nước góp phần lan tỏa tình yêu di sản và ý thức gìn giữ giá trị truyền thống.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
Thơ Lữ Hồng - vị buồn dưới một đồng cỏ thơm
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO