Tương làng tôi

HNM| 26/11/2021 10:52

Nếu như miền Nam nổi tiếng với các loại mắm thì miền Bắc cũng có những loại tương nổi tiếng như tương Bần (Hưng Yên), tương Cự Đà (Thanh Oai, Hà Nội) hay tương Nam Đàn (Nghệ An) ("nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn")... Nhưng các loại tương đó đều khác với tương của quê tôi - làng cổ Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, Hà Nội).

Trong xã Đường Lâm, ngon nhất phải kể đến tương cụ Đá ở làng Mông Phụ (một trong 9 làng của xã Đường Lâm). Đây được coi là đặc sản hàng đầu trong các loại đặc sản của vùng đất cổ này với câu thành ngữ: “Tương cụ Đá, cá cụ Hỹ”...
Tương làng tôi
Làng cổ Đường Lâm nổi tiếng với đặc sản tương.

Làm tương vốn là công việc thân thuộc của cộng đồng cư dân nông nghiệp miền Bắc. Làng tôi cũng vậy, nhà nào cũng phải có một vài chum tương. Chum tương trong sân nhà như biểu hiện về nền nếp của một nông gia. Cách làm tương na ná giống nhau, song các cụ thường bảo “do tay” nên tương mỗi nhà có mùi vị khác nhau, quyết định nét độc đáo trong sản phẩm tương của từng nhà.

"Tháng sáu máu rồng”, đó là thời gian các bà, các chị trổ tài nội trợ với món thực phẩm đặc biệt này. Riêng nhà cụ Đá, sự chuẩn bị tỉ mỉ lắm. Bắt đầu là gạo, nguyên liệu tốt nhất phải là nếp cái hoa vàng để làm nên thứ tương đậm ngọt, sánh quyện. Gạo đem đi xay giã giần sàng, lựa lấy hạt “trộng” (không đớn gãy) rồi đem ngâm kỹ, đãi sạch sau đó đồ thành xôi và ủ “mốc”. Người có kinh nghiệm mới lấy được màu “mốc” như ý. Thường thường các chị, các cô vẫn phải nhờ đến các cụ già trong làng, sáng sáng, chiều chiều thăm nom chu đáo mới vừa.

Riêng tương nhà cụ Đá còn một giai đoạn nữa mới đạt đến độ tuyệt hảo. Đó là bí quyết, là kinh nghiệm gia truyền không ai bắt chước được. Khách đến đúng vào lúc làm “mốc mật” sẽ thấy một loạt bát sứ cổ kiểu “móng ngựa” hai chiếc úp lại với nhau, trong bát đựng “mốc” đã ủ màu hoa cải... Tất cả được xếp cẩn thận dưới gầm bàn thờ, thỉnh thoảng lại thấy cụ lật lên, lật xuống. Với người khác làm như thế chỉ có đổ bỏ. Nếu khách hỏi sẽ được nghe một câu trả lời rất... trừu tượng: “Làm như thế để âm dương hòa hợp”. Có lẽ vì cái triết lý âm dương tương đồng này mà sản phẩm của nhà cụ đạt đến độ “nghệ thuật ẩm thực”, trở thành nét độc đáo nổi bật của làng tôi, đóng góp vào kho tàng văn hóa ẩm thực Việt Nam một hương vị riêng độc đáo.

Sau mốc là nước đỗ (đậu tương). Đỗ phải là giống cổ truyền được gieo trên đồi trung du để có đủ độ bùi, béo cần thiết. Đỗ cũng phải đãi sạch rồi mới đem rang. Rang quá lửa mất béo, rang non lửa mất thơm. Muốn được như vậy thì lửa phải nhỏ, than phải tốt. Rang xong vỏ đỗ vẫn giữ nguyên được màu, nhưng khi cắn vỡ đôi lòng đỗ màu vàng sậm là được. Đỗ được xay vỡ đôi rồi sảy bỏ vỏ, cho vào nồi nấu kỹ. Sau đó cho vào chum, vại với nước lã ngâm (lên men) để làm “chè”.

Đồ làm tương phải là đồ đất nung chín đến độ sành. Chum vại chín già nhưng khi gõ vào, tiếng kêu phải như chuông thanh, ngân nga như tiếng chuông đồng. Nước tốt nhất trong làng phải là nước giếng Giang (một giếng đá ong gần tư gia của cụ Thám hoa Giang Văn Minh). Nước giếng này bốn mùa trong vắt, giữa mùa hè giội nước lên người ai cũng thon thót giật mình vì lạnh...

Dấm mốc phải dấm vào chum. Miệng chum nhỏ để giữa sân dưới nắng hè tháng sáu. Nắng âm ỉ nung nấu giúp mốc nhừ, nhuyễn. Nước đỗ phải ngâm trong vại. Miệng vại rộng, thông thoáng. Mốc khó lúc ủ, nước đỗ khó lúc ngâm, ngâm tới là được. Nếu nước đỗ chưa được, sớm nửa ngày nhạt phèo, già nửa ngày ngọt gắt nhưng nặng mùi khó ăn. Khi nước đỗ được sẽ tỏa mùi thơm ngào ngạt và trong như nước mắm Ô Long (*). Ghé soi mặt mình vào vại nước đỗ thấy sáng như gương là được...

Mốc là giai đoạn “thiu”, nước đỗ là giai đoạn “thối”. Hai thứ đó hòa nhập vào nhau trong một thời khắc nhất định tạo thành tương. Cái triết lý “tương đồng, tương khắc” làm cho khách chỉ còn biết buông mỗi lời khen: “Tuyệt vời!”. Thế mới thật là: “Chồng thiu vợ thối khối người mê”.

Chum tương làng tôi từ xa xưa đã trở thành... cái “tủ lạnh” trong góc sân. Tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, đây là nơi cất giữ xâu thịt còn lại sau ngày giỗ chạp, quả cà giã vụ “cơm cấy, cơm cày” tháng sáu... Tất cả đều được ngâm trong tương.

Tháng tám heo may, quả cà trong chum đã chín. Cà muối xổi phải xé bằng tay mới ngon, cà ngâm tương phải cắt bằng dao mới đẹp. Nhìn những miếng cà trong đĩa sứ đỏ au như hổ phách, ai đã một lần thưởng thức mới thấy hết ý nghĩa câu ca: “Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”... (thơ Á Nam Trần Tuấn Khải).

Thời buổi kinh tế thị trường bây giờ, tương được bày bán ở khắp mọi nơi. Tương là món ăn rẻ, ngon mà lành. Song, để có được thứ tương đặc biệt, phải cầu kỳ, cẩn thận lắm...

----------------------

(*) Một thương hiệu nước mắm truyền thống ở Đà Nẵng.

(0) Bình luận
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
  • Ngựa trong đời sống Thăng Long - Hà Nội
    Hà Nội có 5 địa danh gắn với chữ Mã là phố Kim Mã, hồ Mã Cảnh, phố Hòa Mã, phố Hàng Mã và đền Bạch Mã. Tuy nhiên, chữ Mã với nghĩa là ngựa thì chỉ có Kim Mã, Mã Cảnh và Bạch Mã. Tuy nhiên Bạch Mã với nghĩa ngựa trắng chỉ là truyền thuyết, còn chữ Mã trong Hàng Mã và Hòa Mã là chữ Nôm chỉ đồ cúng tế, quần áo mặc khi làm lễ.
  • Phường Hoàn Kiếm: Dâng hương kỷ niệm ngày hóa của Đức Hỏa Thần
    Sáng 17/11/2025, tại đền Hỏa Thần (số 30 Hàng Điếu, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội), Đảng ủy, HĐND, UBND, UB MTTQ phường Hoàn Kiếm phối hợp cùng Ban Quản lý hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội, Tiểu ban quản lý di tích Đền Hỏa Thần và nhân dân địa phương long trọng tổ chức lễ dâng hương kỷ niệm ngày hóa Đức Hỏa Thần.
  • Đồ chơi Trung thu Hà Nội xưa: Từ ký ức đến hành trình tiếp nối
    Rằm tháng Tám, tiếng trống hội, đèn ông sao, mùi bánh nướng, bánh dẻo… như đánh thức ký ức tuổi thơ trong mỗi người. Với trẻ nhỏ, Trung thu là đêm hội rước đèn, phá cỗ dưới trăng, còn với người lớn, đó là dịp trở về miền ký ức với những món đồ chơi dân dã. Năm nay, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam mang đến cho công chúng một trải nghiệm đặc biệt qua không gian nghệ thuật sắp đặt “Sắc Thu” (diễn ra từ 4/10 và kéo dài đến 4/11/2025). Trong không gian ấy, có nhiều đồ chơi truyền thống gắn với các làng nghề Hà Nộ
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Triển lãm 80 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến
    Trong khuôn khổ Lễ hội Làng Sen năm 2026, Triển lãm chuyên đề “80 năm Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946 - 19/12/2026) sẽ diễn ra từ ngày 19/5 đến 23/5/2026 tại Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh. Lễ khai mạc được tổ chức lúc 8h ngày 19/5/2026.
  • [Podcast] Đêm Hà Nội và những thanh âm của thành phố
    Hà Nội thường được nhớ đến với vẻ đẹp cổ kính của ba mươi sáu phố phường, với những mái ngói rêu phong, hồ nước xanh trong và nhịp sống mang dáng vẻ thanh lịch của người Tràng An. Nhưng khi màn đêm buông xuống, thành phố lại khoác lên mình một diện mạo khác: vừa sâu lắng mà cũng vừa sống động hơn...
  • [Podcast] Tản văn: Hương sen vương vấn sợi trà
    Những ngày còn công tác ở Hà Nội, ông ngoại tôi đã xin được giống sen Hồ Tây về trồng trong đám ruộng lầy cải tạo thành ao, bờ mòn dần hóa thành đầm sen đầu tiên ở bản. Những nhà hàng xóm ngắm bông sen to, đẹp thơm ngát một vùng thì đến xin vài ngó già.
  • Thúc đẩy giao lưu văn hóa, du lịch giữa Việt Nam – Trung Quốc
    Ngày 14/5, tại Hà Nội, Sở Văn hóa và Du lịch Khu tự trị dân tộc Choang (Quảng Tây, Trung Quốc) phối hợp Trung tâm Văn hóa Trung Quốc tại Hà Nội tổ chức chương trình “Trà hài hòa Thế giới - Nhã tập 2026” và giới thiệu văn hóa, du lịch với chủ đề “Gặp gỡ Quảng Tây (Bách Sắc)”.
  • Quyết định nhiều nội dung về kinh tế - xã hội để đất nước phát triển nhanh, bền vững
    Trong trong công tác lập pháp, tại kỳ họp thứ nhất vừa qua, Quốc hội khóa XVI đã xem xét, thông qua nhiều nội dung về kinh tế - xã hội cùng các nội dung quan trọng khác, từ đó kịp thời thể chế hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và các kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Đừng bỏ lỡ
Tương làng tôi
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO