Thế Lữ người khai sáng phong trào Thơ mới

Vũ Quần Phương| 09/08/2019 08:20

Thế Lữ (1907 - 1989) tên thật là Nguyễn Thứ Lễ. Thứ Lễ đọc lái đi thì thành Thế Lữ và có nghĩa là cái quán trọ của đời người (coi đời người như quán trọ?). Sinh ra ở Hà Nội, trải qua tuổi thơ ở Lạng Sơn, nơi sẽ cho ông những ấn tượng thâm u về chuyện đường rừng và của thơ nhớ rừng sau này. 9 tuổi về Hải Phòng học trung học. Năm 23 tuổi thi vào trường Mĩ Thuật, nhưng thôi học ngay năm đầu. Sau đó viết truyện và làm thơ. Truyện của ông hấp dẫn vì tính chất bí ẩn và suy luận trinh thám. Từ năm 1942 ông sang kị

Thế Lữ người khai sáng phong trào Thơ mới

Thế Lữ (1907 – 1989) tên thật là Nguyễn Thứ Lễ. Thứ Lễ đọc lái đi thì thành Thế Lữ và có nghĩa là cái quán trọ của đời người (coi đời người như quán trọ?). Sinh ra ở Hà Nội, trải qua tuổi thơ ở Lạng Sơn, nơi sẽ cho ông những ấn tượng thâm u về chuyện đường rừng và của thơ nhớ rừng sau này. 9 tuổi về Hải Phòng học trung học. Năm 23 tuổi thi vào trường Mĩ Thuật, nhưng thôi học ngay năm đầu. Sau đó viết truyện và làm thơ. Truyện của ông hấp dẫn vì tính chất bí ẩn và suy luận trinh thám. Từ năm 1942 ông sang kịch và ở lại đó cho đến khi mất. 

Về thơ, ông chỉ có bảy năm sáng tác, khoảng 1933 - 1941, chỉ in có hai tập, đúng ra là một tập, Mấy vần thơ (1935) sau bổ sung thành Mấy vần thơ tập mới (1941) nhưng lại có ý nghĩa khai sinh một chặng phát triển mới cho cả nền thơ Việt. Ông là người khởi xướng thành công phong trào Thơ mới. Đầu những năm 30, thơ cũ theo luật Đường không còn đủ sức phô diễn những tình cảm mới. Ngay Tản Đà cũng đã phải có những yếu tố cách tân. Đến năm 1932 thì một loạt thi sĩ mang vào thơ những thay đổi cả về nội dung lẫn hình thức. Những cuộc tranh luận giữa mới cũ diễn ra sôi nổi. Thế Lữ không tham gia tranh luận mà lặng lẽ làm thơ theo lối mới. Khi tập Mấy vần thơ của ông ra đời thì phái thơ cũ không còn lí lẽ để công kích thơ mới nữa. Với Thế Lữ, lần đầu công chúng thơ được nếm một thi vị hoàn toàn mới mẻ, một dạng xúc động mới, một chất tâm hồn mới. Ngôi thứ đầu bảng của Thế Lữ đã được công nhận ngay từ những năm ấy và thể hiện khá rõ khi nhìn lại trình tự xuất hiện các tập thơ tiêu biểu: 

- Năm 1935: Mấy vần thơ của Thế Lữ
- Năm 1937: Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Điêu tàn của Chế Lan Viên và bốn bài của T.T.Kh (bút danh của một nhà thơ ẩn danh trong phong trào Thơ mới (1930–1945) trên Tiểu thuyết thứ bảy.

- Năm 1938: Thơ thơ của Xuân Diệu. 

- Năm 1940: Lửa thiêng của Huy Cận và Thơ say của Vũ Hoàng Chương. 

Điều có ý nghĩa với hôm nay, khi thơ đương thời cũng đang có nhu cầu đổi mới, đổi mới trong nội dung và cả cái cách làm ra nội dung ấy, là thấy rõ hơn cái khoảng cảm xúc mà Thế Lữ đã mở ra, cái cách ông nới rộng thêm hồn thơ và từ đó mà đổi thay bút pháp.

Ông không phản ánh hiện thực, ông chỉ phản ánh tâm hồn mình. Mà cái cõi tâm hồn ấy không phải lúc nào cũng cứ phải liên hệ chằng chằng với hiện thực, như bóng với hình. Nó có những so le, những trái khoáy rất không quy luật với cái hiện thực cụ thể của khoảnh khắc ấy như thuộc tính vốn có của tâm hồn con người. Bài thơ cất lên tự một cõi riêng, nhiều khi không dính trực tiếp một - một với thời sự cơm áo gạo tiền, hay với cõi rộng xa vận nước. Mối liên hệ của tâm và sự trong thơ Thế Lữ, nếu có, cũng cách bức hơn nhiều, biện chứng phức tạp hơn nhiều. Nhiều lúc ngỡ như chuyện trên giời, xa đời, xa mặt đất, bất ngờ và đầy biến hóa. Do vậy ở vào thời kì nào nhu cầu dùng thơ làm nhiệm vụ thông tin, cổ động, tổ chức công chúng thành cấp bách, thì người đời không ưa lắm, thậm chí chế giễu tính vô dụng của thơ lơ mơ này. Xin đơn cử một ví dụ ngẫu nhiên, bài Tiếng trúc tuyệt vời. Nghe tiếng sáo trúc tác giả cảm nhận “như khua động nỗi nhớ nhung, thương tiếc”. Thơ phát triển đến đây thì cả cổ điển lẫn lãng mạn như nhau. Nhưng khi tác giả “buộc” nỗi nhớ nhung thương tiếc vào cái cô vu vơ nào đứng bên hồ kia, ông đoán chắc cô đang nghĩ ngày vui sẽ mất, sắc đẹp sẽ tàn phai. Rồi cô man mác, cô bâng khuâng, cô tê tái, cô thổn thức. Ông tác giả lại muốn nâng “tấm khăn hồng lau mắt lệ” cho cô. Lau mắt lệ mà không chỉ vì nước mắt, mà chính “vì ta sợ má đào kia phai” thì đa sự quá, chiếu vào đời thực thì nó là hành động của anh dở người. Nó phi thực. Đặc điểm chủ yếu của chủ nghĩa lãng mạn chính là phi thực, phóng túng theo cơn tưởng tượng của tình cảm, không còn lí trí kiểm tra. Nghe tiếng sáo, thấy buồn thì khóc. Thấy người đẹp khóc thì phải xông vào mà lau nước mắt cho người ta mà khăn tay cứ phải màu hồng (Khóc như em mấy khăn hồng chả phai - Nguyễn Bính). Lau nước mắt cho người rồi mình cũng mưa gió khóc theo. Những tâm hồn kiểu ấy trước Thế Lữ không có trong thơ Việt. Thế sao bây giờ lại nảy nòi ra? Ai đặt hàng những mẫu tâm hồn ấy mà thơ lại chế tác ra và được xã hội tiếp nhận?

Tiếng súng xâm lược đầu tiên bắn vào Đã Nẵng 1858. Thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai 1883. Hòa ước mất nước, triều đình Huế kí năm 1884. Kẻ xâm lược bắt tay vào giai đoạn khai thác. Ở các thành thị, phố chợ, nhịp sống tao loạn chuyển dần sang cuộc sống đời thường lo ăn lo làm, phát triển lo thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. Để cải thiện cuộc sống tinh thần của chính mình, con người tìm mọi cách. Có tôn giáo và có cả mê tín. Có nghệ thuật và đặc biệt là nghệ thuật mơ mộng. Hình thành nhu cầu mơ mộng để chí ít hưởng thụ trong cõi tinh thần. Đó cũng là kinh nghiệm của nhân loại. Xã hội Việt Nam ta lúc đó, hình thành lớp người có nhu cầu đó thì kinh nghiệm đó nhập vào, tự phát lẫn tự giác nhập vào mà hình thành chủ nghĩa lãng mạn cho thơ. Tác động của hiện thực tới thơ là tác động qua tâm trạng và đấy chính là cái cách để thơ trở nên nhân văn hơn, thương xót con người hơn.  

Thưởng thức Thế Lữ và cũng để thấy những khai phá của Thế Lữ trong thơ lãng mạn Việt Nam, chúng ta nên hình dung lại những đòi hỏi tinh thần của lớp người có học trong các nơi đô hội thời ấy. Một đòi hỏi mơ hồ nhưng bức thiết. Trong tình cảnh ấy, sự đáp ứng của chủ nghĩa lãng mạn là có ý nghĩa. Nó có sức giải tỏa những ngột ngạt bức bách, nó nâng cấp tâm hồn con người. 

Thế Lữ đã có cách lắng nghe kì diệu những tiếng vọng mơ hồ đầy gợi cảm trong tâm hồn lớp người tuổi trẻ, những tiếng vọng hình thành từ những đổi thay của lối sống, của lối nghĩ, cách vui buồn. Mà những đổi thay này bắt nguồn từ những đổi thay của thời thế, không cưỡng được. Thế Lữ đã phát hiện và diễn tả được cái tâm trạng bâng khuâng man mác (cụm từ này xuất hiện trong nhiều câu thơ Thế Lữ và Xuân Diệu đã tách nó ra để chỉ thuộc tính của thơ Thế Lữ) của những người vừa tách ra khỏi cái tập thể chung chung mù mờ cảm giác của chế độ phong kiến già nua để tìm lại cá tính tiên thiên, tìm lại cảm xúc riêng của con người. Tâm trạng phổ biến của những con người ấy là nỗi bâng khuâng khi đối diện mình với khoảng xa rộng của không gian, của đời người, của hạnh phúc lứa đôi. Đó là đòi quyền tồn tại của cái cá thể dưới mặt trời. Thế Lữ thường kí thác niềm bâng khuâng mơ hồ ấy vào tâm hồn cô gái mới lớn, lần đầu nghe lòng mình xao động hoặc vào cuộc sống trôi dạt một khách chinh phu “mũ lợt bốn trời sương nắng gội”, hoặc vào đời một nghệ sĩ “tìm mộng vàng trên cảnh lộng trời mây” cao quý và đói khổ.    

Thế Lữ đắm say trong những cảm xúc lãng mạn, ông tạo dựng bồng lai và tự kinh ngạc trước vẻ đẹp thần thoại do chính hồn mình tạo dựng:

Trời cao xanh ngắt – Ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về 
bồng lai
(Tiếng sáo thiên thai)
Và:

Ái ân bờ cỏ ôm chân trúc
Sau trúc, ô kìa! Xiêm áo ai?
(Vẻ đẹp thoáng qua)

Trời xanh hạc trắng ấy là phi thực. Xiêm áo trút sau tre ấy cũng chỉ trong cõi mộng. Hãy lấy mơ và mộng càng hư ảo càng dễ cảm thụ cõi tinh vi huyền diệu của thơ Thế Lữ. Thói quen cảm nhận phẩm chất thơ quá câu nệ vào hiện thực, có thể dẫn đến những suy diễn lệch lạc về thơ Thế Lữ.

Bài Nhớ rừng thực chất là một tuyên ngôn của chủ nghĩa lãng mạn, không chấp nhận cái tầm thường (Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng/ Dải nước đen giả suối chẳng thông dòng/ len dưới nách những mô gò thấp kém…) để đòi cái phi thường, phi thực (Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi hoặc với những đêm vàng bên bờ suối/ Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan và những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn/ Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới…). Thế giới lãng mạn của Thế Lữ gần với tiên cảnh, gần với Thiên Thai, với “Tiên Nga xõa tóc bên nguồn” với “Ngọc nữ uốn mình trong không”. Tạng lãng mạn của ông là vậy. Người đọc nên nhập gia tùy tục, đừng ép ông phải chặt cánh phóng túng của cơn mơ để vừa với cái khuôn thực thực dụng của thời mình.

Trong cách kết cấu bài thơ, cách làm câu Thế Lữ xuất phát từ nhiều điệu thơ dân tộc lăn lóc trong văn học dân gian, kết hợp với kỹ thuật thơ Pháp mà dấu tích khá rõ trong lối thơ vắt dòng để tạo nên thể thơ uyển chuyển biến hóa không cùng theo tâm trạng, đáp ứng được mong ước của Tản Đà hồi nào “phá cách vứt điệu luật”.

Nghệ thuật ngôn ngữ, âm điệu, hình ảnh… ở Thế Lữ đã đạt tới độ tinh xảo đủ để chuyên chở cái cõi mộng của hồn ông. Hơn hai phần ba thế kỷ đi qua, nay đọc lại vẫn còn nguyên mưới mẻ.
(0) Bình luận
  • Bà phù thủy có cây vú sữa
    Chẳng hiểu vì sao tôi rất sợ khi thấy bà phù thủy nhà bên. Nhưng càng sợ lại càng tò mò, cứ muốn lén nhìn qua lỗ gạch để xem từng hành động của bà. Bà đang quét lá vú sữa, biết có ánh mắt đang theo dõi, liền ghé lại, làm tôi một pheng điếng hồn.
  • Những món quà của tạo hóa
    Tôi rất cô đơn, không có lấy một người bạn nào để gọi là thân. Vì không giỏi giao tiếp hay vì không tìm được người nào đủ tin tưởng để mở lòng mình ra, tôi không biết nữa, chỉ thấy mỗi khi lòng đầy lên là lại ước mình được rủ rỉ cùng Dung.
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
  • Chuyện lạ đêm giao thừa
    Bố của Duy là một nhà sáng chế. Ông rất tài giỏi và thông minh. Duy cũng thông minh nhưng lại rất ham chơi.
  • Nhà phố
    Mắt nhắm mắt mở, Thao còn nằm trên giường đã nghe tiếng cãi vã nhau oang oang. Rõ ràng Thao đóng cửa kính mà âm thanh chát chúa từ dãy nhà phía sau vẫn giội vào rát cả tai. Cái xóm phố toàn nhà bốn tầng, ô tô hạng sang vây kín khoảng đất trống, ấy thế lời tuôn ra chả kém cạnh mấy kẻ côn đồ khi xô xát. Tiếng đồ đạc vung ra sân loảng xoảng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tiểu thuyết “Phi công” - kiệt tác văn học đương đại Nga ra mắt độc giả Việt
    Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam vừa giới thiệu tới bạn đọc tiểu thuyết “Phi công” của nhà văn Nga đương đại Evgeny Vodolazkin, do dịch giả Phan Xuân Loan chuyển ngữ. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết Nga nổi bật nhất của thập niên 2010.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Em trai
    Tôi sinh ra và lớn lên tại một ngôi làng hẻo lánh, nghèo nàn trên đỉnh núi. Ngày qua ngày, cha mẹ tôi “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” cày xới đám đất khô đã ngả vàng nuôi gia đình mà vẫn khó khăn. Mùa xuân, hoa lá cỏ cây đua nhau nở nhưng nhà chúng tôi lúc nào cũng màu xám...
  • Bà phù thủy có cây vú sữa
    Chẳng hiểu vì sao tôi rất sợ khi thấy bà phù thủy nhà bên. Nhưng càng sợ lại càng tò mò, cứ muốn lén nhìn qua lỗ gạch để xem từng hành động của bà. Bà đang quét lá vú sữa, biết có ánh mắt đang theo dõi, liền ghé lại, làm tôi một pheng điếng hồn.
  • Điểm hẹn cuối tuần giữa lòng di sản
    Chiều 28/6, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục trở lại tại sân khấu Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội). Không chỉ mang đến những tiết mục jazz đặc sắc cùng các ca khúc quen thuộc về Hà Nội, chương trình còn góp thêm một mảnh ghép vào đời sống văn hóa của Thủ đô, nơi nghệ thuật từng bước hiện diện như một phần của nhịp sống thường nhật.
  • “Vì an toàn giao thông” năm 2026: Cầu nối xây dựng văn hóa giao thông cho thế hệ trẻ Thủ đô
    Nhằm thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Ban Bí thư, Chính phủ và các kế hoạch trọng điểm của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, ủy ban nhân dân thành phố đã chuẩn bị triển khai Chương trình truyền thông “Vì an toàn giao thông Thủ đô” năm 2026.
Đừng bỏ lỡ
  • Tái hiện thiên tình sử bất hủ giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Công chúa Thiên Thành
    Vở cải lương “Tình sử Đông A” tái hiện thiên tình sử bất hủ giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Công chúa Thiên Thành, đưa khán giả trở về với một giai đoạn lịch sử rực rỡ, nơi tình yêu, lòng trung nghĩa và khí phách dân tộc cùng tỏa sáng. Đêm diễn sẽ chính thức được mở màn vào lúc 20h00 ngày 27 tháng 6 năm 2026 tại Rạp Chuông Vàng, số 72 Hàng Bạc, Hà Nội.
  • Hà Nội tăng cường phát triển xuất bản trong tình hình mới, lan tỏa văn hóa đọc và sức mạnh mềm văn hóa Thủ đô
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Hướng dẫn số 38-HD/BTGDVTU ngày 22/6/2026 về quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Hướng dẫn xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm phát triển xuất bản theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gắn với phát triển văn hóa đọc, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số trên địa bàn Thủ đô.
  • "Trải nghiệm văn hóa dân gian truyền thống" tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Từ ngày 1 đến 31/7/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra chuỗi hoạt động tháng 7 với chủ đề "Trải nghiệm văn hóa dân gian truyền thống", mang đến nhiều chương trình trải nghiệm, giao lưu và thực hành di sản dành cho công chúng, đặc biệt là thanh thiếu niên trong dịp hè.
  • Khai mạc Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026
    Tối 26/6, tại Hà Nội, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với Hãng phim Quốc gia Belarus (Belarusfilm) và Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus tổ chức lễ khai mạc Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026.
  • Khai mạc Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026: Tôn vinh giá trị của sen trong đời sống người Việt
    Tối 26/6, tại Vườn hoa Lý Tự Trọng, Sở Du lịch Hà Nội phối hợp với UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Sắc Sen Hà Nội”. Đây là sự kiện văn hóa - du lịch quy mô lớn nhằm tôn vinh giá trị của sen trong đời sống người Việt, đồng thời góp phần xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa đặc trưng của Thủ đô gắn với hình ảnh hoa sen.
  • Tầm nhìn thế kỷ để Thủ đô Hà Nội bứt tốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
    Trong suốt tiến trình lịch sử phát triển đô thị của Việt Nam, chưa có một văn kiện nào thể hiện chiều sâu không gian và chiều dài thời gian vĩ mô như Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính chị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 đánh dấu một bước ngoặt tư duy mang tính cách mạng, thay thế các góc nhìn ngắn hạn bằng một hệ kiến trúc chính sách mang tầm thế kỷ cho Hà Nội.
  • Thêm một không gian vui chơi cho trẻ tại Phố Sách Hà Nội
    Sáng 26/6, tại Phố Sách Hà Nội (phố 19 háng 12, phường Cửa Nam), UBND phường Cửa Nam phối hợp với Tập đoàn Picenza Việt Nam, doanh nghiệp xã hội Think Playgrounds và Ban Quản lý Phố Sách Hà Nội tổ chức ra mắt Khu vui chơi - Chòi chơi Phố sách, hưởng ứng kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026).
  • Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026
    Từ ngày 26 đến 28/6/2026, tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Hà Nội), Cục Điện ảnh phối hợp với Hãng phim Quốc gia Belarus (Belarusfilm) và Bộ Văn hóa Cộng hòa Belarus tổ chức “Những ngày phim Belarus tại Việt Nam năm 2026”.
  • Tuyên dương 126 gia đình văn hóa tiêu biểu Thủ đô năm 2026
    Sáng 25/6, Thành phố Hà Nội đã tổ chức Hội nghị tuyên dương các gia đình Văn hóa tiêu biểu Thủ đô năm 2026, nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026).
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Văn Học
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Văn Học.
Thế Lữ người khai sáng phong trào Thơ mới
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO