Lý luận - phê bình

Thơ ca về những người xả thân vì nghĩa lớn

Nhà thơ Phạm Đình Ân 08:54 15/07/2025

Nhân dân ta trải qua hàng nghìn năm chống chọi với thiên tai, giữ cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nhưng trên hết, chiến tranh chống ngoại bang xâm lược hung tàn, dai dẳng là thử thách lớn nhất đối với Tổ quốc, dân tộc.

Nhiều người vì nghĩa lớn mà phải chịu thương tật nặng nề suốt đời, hơn thế nữa, phải hy sinh cả tính mạng, gây tổn hại tinh thần và vật chất đối với gia đình, người thân. Họ mãi mãi được vinh danh trong sử sách, trong tâm khảm người dân đương thời và hậu thế. Tuy nhiên, văn chương thời trung đại chỉ nghiêng nhiều về phía khẳng định, đề cao công lao, sự nghiệp của họ khi họ còn khỏe, còn “hành đạo”. Thơ văn nói sâu về thương tật, về cái chết của họ chưa trở thành một hướng tiếp cận kiểu như đề tài thương binh liệt sĩ (TBLS) hiện nay.

untitled-2.jpg

Từ đầu thế kỷ XX, khái niệm “Thương binh Liệt sĩ” dần hình thành rõ nét, để rồi từ đó, đề tài TBLS trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), tiếp theo là cuộc chống Mỹ (1955 - 1975) được nhiều tác giả tham gia. Thơ như nỗi niềm tiếc nhớ, ghi ơn, tri ân từ một góc nhìn, một lát cắt, một khoảnh khắc về hiện thực đời sống, cho nên nội dung đề cập TBLS tập trung hơn văn xuôi. Độc giả dễ tìm ra những bài thơ tiêu biểu ở thời đoạn 1945 - 1975: “Lượm”, “Hãy nhớ lấy lời tôi”, “Người con gái Việt Nam” (Tố Hữu), “Núi Đôi” (Vũ Cao), “Mồ anh hoa nở” (Thanh Hải), “Viếng bạn” (Hoàng Lộc), “Quê hương” (Giang Nam), “Tiếng hát Quốc ca” (Huỳnh Văn Nghệ), “Nhớ máu” (Trần Mai Ninh), “Tôi khiêng anh bạn” (Quản Tập), “Viếng mồ liệt sĩ” (Hồ Tùng Mậu), “Bài ca chim Chơ Rao” (Thu Bồn), “Hoa Chanh” (Nguyễn Bao), “Một bàn chân” (Lữ Giang), “Ngã ba Đồng Lộc” (Huy Cận), “Khoảng trời hố bom” (Lâm Thị Mỹ Dạ), “Nấm mộ và cây trầm”, “Màu hoa đỏ” (Nguyễn Đức Mậu), “Sống chết quang vinh” (Nguyễn Trọng Oánh), “Sự hy sinh của một tiểu đội” (Xuân Hoàng)...

Sau 1975, do hoạt động hướng về nguồn cội, uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa sôi nổi khắp mọi miền đất nước và từ mỗi gia đình, đồng thời với việc chăm sóc thương binh, đi tìm mộ liệt sĩ, cộng với niềm tin tâm linh nổi trội mà nhiều nhà văn rất chú ý đến sáng tác về đề tài TBLS. Từ trung ương đến địa phương, ngoài các hội văn học, nghệ thuật thì một số bộ, ban, ngành… đã tổ chức cuộc vận động hoặc cuộc thi sáng tác về đề tài TBLS. Các tác giả hầu hết là người đã và đang tại ngũ hoặc từng trải qua chiến tranh. Có nhà thơ viết về liệt sĩ, sau đó lại là liệt sĩ, như Lê Anh Xuân với bài thơ nổi tiếng “Dáng đứng Việt Nam”. (Cũng có những bài viết về nhà thơ, nhà văn liệt sĩ, trong đó có liệt sĩ Lê Anh Xuân, đó là bài “Ý nghĩ bất chợt trong nghĩa trang chiều” của Diệp Minh Tuyền). Nếu khảo sát trên ấn phẩm cả nước, có thể thấy đến hàng nghìn bài thơ và nhiều trường ca hoặc truyện ngắn chỉ viết về TBLS. Nói riêng về thơ đã in sách, báo trung ương mà độc giả đã biết hoặc rất dễ tìm đọc, thì có thể tạm kể một số tác giả và tác phẩm sau: Thanh Quế với “Trưa 30-4-1975”, Hữu Thỉnh với “Phan Thiết có anh tôi”, Trần Ninh Hồ với “Viếng chồng”, Nguyễn Thái Sơn với “Thăm mộ chiều cuối năm” và “Ảnh thờ”, Ngô Thế Oanh với “Vô danh”, Nguyễn Hữu Quý với “Khát vọng Trường Sơn”, “Cơn mưa rừng chiều nay” và “Chuyện đi tìm mộ liệt sĩ”, Vũ Bình Lục với “Đám cưới một linh hồn” và “Vuốt mắt cho cánh rừng”, Lê Văn Vọng với “Viếng mộ”, Mai Nam Thắng với “Hoa loa kèn”, “Lau trắng Điện Biên”, “Rau tập tàng”, Lê Đình Cánh với “Gió đất”, “Xem nhờ ti-vi”, Dương Thuấn với “Một ngày một đêm”, Vương Cường với “Cõng bạn đi chơi”, Nguyễn Linh Khiếu với “Chiều thanh tước”, Đinh Phạm Thái với “Cái roi ngày ấy”, Trần Quang Nhật với “Mừng vợ bạn lấy chồng”. Những sự kiện lớn gây tổn thất nặng nề ở các địa danh lịch sử Đồng Lộc, Truông Bồn, Thành cổ Quảng Trị… đã lay động sâu sắc tâm can nhiều tác giả, khiến họ cho ra đời những bài thơ, trường ca nói đến TBLS có giá trị cao về tư tưởng và thẩm mỹ. Ngoài ra, hình ảnh TBLS kiên cường, quả cảm ở các mặt trận khác như biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam hay trên lãnh thổ nước bạn Lào và biển đảo cũng được tái hiện một cách chân thực và xúc động trên các trang thơ.

Tác giả Nguyễn Hà Huy đã rất đúng khi cho rằng “có một tượng đài Đồng Lộc trong thơ” (Tạp chí Hồng Lĩnh - Hà Tĩnh, số 7-2018). Viết sớm nhất về Đồng Lộc là Huy Cận, viết hay nhất sau này là Yến Thanh với bài “Cúc ơi”, Vương Trọng với bài “Lời thỉnh cầu ở Ngã ba Đồng Lộc”, Nguyễn Trọng Tạo với trường ca “Con đường của những vì sao”. Và hàng trăm thi phẩm khác. “Gặp lại các em” của Nguyễn Đình Chiến đăng trên báo Văn nghệ khoảng đầu những năm 80 thế kỷ trước là một bài thơ thuộc loại xuất sắc viết về sự hy sinh của lính trẻ ở mặt trận biên giới phía Bắc. Hình ảnh mộ gió xuất nhiều trong những thi phẩm nói về liệt sĩ không có mộ ở ngoài khơi biển đảo Tổ quốc. Bài thơ “Mộ gió” của Trịnh Công Lộc là một trong những bài thơ thuộc mô típ này được độc giả chú ý.

Số lượng thi phẩm về thương binh không nhiều nhưng có những bài đã ghi dấu ấn vào lịch sử thơ ca hiện đại như: “Người con gái Việt Nam” (Tố Hữu), “Tiếng hát Quốc ca” (Huỳnh Văn Nghệ), “Hoa chanh” (Nguyễn Bao)… Hình tượng người thương binh còn có trong những trường ca viết về chiến tranh. Do thế mạnh của thể loại ở một góc độ nhất định thì truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, hồi ký, tản văn… đã viết nhiều về cựu chiến binh - thương binh, bù cho thơ một cách vừa vô tình vừa hữu ý.

Bên cạnh những bài thơ khai thác hình tượng mang tính biểu tượng và khái quát như núi Vọng Phu, nghĩa trang, liệt sĩ vô danh, hành trình tìm mộ hay các địa danh linh thiêng, còn có nhiều sáng tác đi vào những khía cạnh riêng tư, sâu lắng về gia đình và hạnh phúc. Hoàn cảnh hy sinh của mỗi liệt sĩ thường rất khác nhau, thi thể gửi lại cũng không ai giống ai. Vì thế, thơ viết về các anh, các chị cũng muôn hình muôn vẻ. Với liệt sĩ, người tưởng nhớ họ không chỉ là bố mẹ, vợ chồng, con cháu, mà còn là người yêu, đồng đội, bạn bè. Mỗi người sống mang một số phận riêng, nên cũng có cảm xúc riêng trong nỗi đau chung, nhất là khi đối diện với hài cốt liệt sĩ hoặc thưa chuyện với linh hồn họ. Từ đó, những tứ thơ lạ, những bài thơ hay đã ra đời. Chẳng hạn như bài thơ “Cõng bạn đi chơi” thuật lại cảnh một bạn đồng ngũ cõng liệt sĩ về quê gặp mẹ và vợ. Bài thơ như một giấc mơ đầy ám ảnh tâm linh. Bài thơ “Mừng vợ bạn lấy chồng” tạo được tứ thơ mới về liệt sĩ với cách nhìn đầy nhân ái. Bài “Cái roi ngày ấy” cho độc giả biết cái roi kỷ niệm bố mẹ ngày trước đánh con nhằm răn đe nhẹ nhàng khi con lười học, mải chơi vẫn mãi mãi còn đây mà đứa con yêu dứt ruột đẻ ra ấy nay không còn nữa. (Trường Sơn một dải xanh rì/ Đất đen đất đỏ lấy gì chôn con). Hàng nghìn gia đình có liệt sĩ mà cảnh ngộ trùng hợp như trên, đọc bài thơ có lẽ đều không cầm được nước mắt.

Từ xúc cảm tưởng nhớ, tôn vinh, tri ân, đền đáp đến suy ngẫm là một bước tiến dài của thơ viết về TBLS. Sau 1975, nhất là sau Đổi mới, thơ viết về TBLS chuyển biến mạnh về chất lượng. Nhiều tác giả và tác phẩm hơn, nhiều trường ca hơn, cách viết sáng tạo hơn. Người viết về đau thương mất mát vì nghĩa lớn không còn bị dè dặt ngòi bút. Thơ đi sâu về nhiều ngả riêng tư, đậm chất tâm linh. Âm hưởng bi tráng mang tính cộng đồng xã hội bao trùm mọi trang thơ, cả ở những trường hợp nói đến cái nhỏ nhất thuộc về gia đình, số phận một con người cụ thể.

Từ xúc cảm tưởng nhớ, tôn vinh, tri ân đến suy ngẫm là một bước tiến dài của thơ viết về TBLS. Sau 1975, đặc biệt là từ sau Đổi mới, thơ về đề tài này chuyển biến mạnh về chất lượng: nhiều tác giả, nhiều tác phẩm, nhiều trường ca hơn, cách viết cũng sáng tạo hơn. Người viết không còn dè dặt khi nói về đau thương, mất mát vì nghĩa lớn. Thơ đi sâu vào những ngả riêng tư, đậm chất tâm linh. Âm hưởng bi tráng mang tính cộng đồng xã hội bao trùm lên trang viết.

Ánh mắt người liệt sĩ vẫn mãi dõi theo chúng ta - không chỉ một ai, mà là tất cả. Đó không chỉ là niềm đau hay sự căm hờn, mà trước hết và sau cùng là tình yêu sâu nặng với đồng bào, là lẽ sống cao đẹp, là lời nhắn gửi về trách nhiệm của người ở lại - trong đó có những người cầm bút đối với những người đã ngã xuống, với nhân dân, với Tổ quốc./.

Bài liên quan
  • “Con đường tương lai ” – Hành trình trí tuệ nối dài khát vọng Việt
    Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, ngày 19/6, tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, Viện Nhân học Văn hóa, Viện Khoa học Giáo dục và Môi trường kết hợp với Sàn văn hóa Học và Đọc Việt Nam, Nhà xuất bản Thể thao và Du lịch tổ chức Hội thảo khoa học đánh giá tập 1 và định hướng tập tiếp theo của dự án sách “Con đường tương lai”.
(0) Bình luận
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách
    “Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.
  • Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
    PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Kỳ họp thứ hai HĐND TP Hà Nội: Bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển Thủ đô
    Phát biểu khai mạc họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề), HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031 diễn ra sáng 11/5/2026, đồng chí Phùng Thị Hồng Hà - Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố Hà Nội nhấn mạnh kỳ họp xem xét, quyết định nhiều nội dung đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hai trường THPT của Hà Nội trở thành trường chuyên tiệm cận chuẩn quốc tế
    Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà vừa ban hành Quyết định 2366/QĐ-UBND ngày 7/5/2026 về việc phê duyệt 02 Đề án xây dựng Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam và Trường THPT chuyên Chu Văn An trở thành trường chuyên tiệm cận chuẩn quốc tế.
Đừng bỏ lỡ
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi nơi công cộng trở thành không gian văn hóa
    Chiều 10/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một không gian biểu diễn mở, nơi âm nhạc hòa vào nhịp sống phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Từ những giai điệu jazz kinh điển đến các ca khúc về Hà Nội, chương trình không chỉ tạo thêm điểm hẹn văn hóa cho người dân và du khách, mà còn góp phần hình thành môi trường văn hóa công cộng giàu tính kết nối giữa lòng Thủ đô.
  • Festival “Nữ Đại sứ Du lịch làng nghề Hà Nội” 2026: Quảng bá giá trị văn hóa, du lịch, làng nghề Thủ đô
    Chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội (Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội) tổ chức Festival “Nữ Đại sứ Du lịch Làng nghề Hà Nội” năm 2026 tại Công viên Thiên Văn Học, phường Dương Nội, TP. Hà Nội.
  • Phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng
    Chiều 8/5, tại xã Phù Đổng, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phù Đổng tổ chức Hội thảo khoa học về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội Gióng và Di tích Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng.
  • Lắng nghe Hà Nội qua những thanh âm cuối tuần
    Có những buổi chiều ở Hà Nội, âm nhạc không vang lên trong nhà hát, mà cất lên giữa khoảng trời mở của phố đi bộ, hòa cùng nhịp bước người qua lại bên hồ Gươm. Chính trong không gian ấy, “Âm nhạc cuối tuần” dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị - nơi công chúng tìm đến không chỉ để nghe nhạc, mà để cảm nhận một nhịp sống văn hóa rất riêng của Thủ đô.
  • Hà Nội: Thêm hai làng nghề gia nhập mạng lưới Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 1)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương
    Quốc hội Việt Nam vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026, tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho sự phát triển của văn hóa và công nghiệp sáng tạo quốc gia.
  • Lần đầu tiên Tuồng, Chèo, Cải lương hội tụ trên cùng một sân khấu
    Dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, công chúng sẽ có cơ hội thưởng thức một tác phẩm độc đáo mang tên "Bí ẩn triều đại phép thuật". Sự kiện đánh dấu bước đột phá hiếm có khi ba loại hình kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo và Cải lương kết hợp trên cùng một sân khấu. Bằng tư duy kể chuyện hiện đại, chương trình hứa hẹn mang đến không gian kỳ ảo, giàu cảm xúc, đặc biệt hướng tới khán giả trẻ và các em thiếu nhi trong mùa hè 2026.
  • "Chuyện sĩ tử" - Nơi lưu giữ 950 câu chuyện thực về hành trình học tập của thế hệ hôm nay
    Nhân dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), một sự kiện lịch sử quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, Ban Tổ chức đã chính thức phát động dự án "Chuyện Sĩ Tử". Dự án này được kỳ vọng sẽ xây dựng một "bảo tàng sống" độc đáo, nơi lưu giữ 950 câu chuyện chân thực về hành trình học tập, rèn luyện của các thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay, nối tiếp truyền thống hiếu học của dân tộc.
  • Phát động cuộc thi chuyển thể truyện tranh “Kính vạn hoa”
    Với mong muốn mang đến hình thức thể hiện mới cho bộ truyện “Kính vạn hoa”, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức Cuộc thi chuyển thể tác phẩm văn học “Kính vạn hoa” sang truyện tranh. Cuộc thi được phát động đúng dịp sinh nhật nhà văn Nguyễn Nhật Ánh (7/5).
Thơ ca về những người xả thân vì nghĩa lớn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO