Văn chương Việt Nam Những nhà thơ thế kỷ XX: Lãng mạn Tản Đà, cái tôi ngông

Vũ Quần Phương| 30/07/2019 16:52

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 25/5/1889, tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, cạnh sông Đà và cách núi Tản Viên 10km theo đường chim bay. Ông đã mượn tên núi tên sông làm bút danh. Tản Đà tạ thế tại Hà Nội ngày 7/6/1939.

Văn chương Việt Nam Những nhà thơ thế kỷ XX: Lãng mạn Tản Đà, cái tôi ngông

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 25/5/1889, tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, cạnh sông Đà và cách núi Tản Viên 10km theo đường chim bay. Ông đã mượn tên núi tên sông làm bút danh. Tản Đà tạ thế tại Hà Nội ngày 7/6/1939.

Tản Đà bước vào văn chương ở buổi cũ mới giao thời. Thơ lối cũ không còn đủ chứa tình ý của thời đại. Còn lối mới thì ông phải tự tìm lấy. Bỗng nhiên Tản Đà thành người tự do không bị khuôn khổ nào câu thúc, cả về hình thức lẫn nội dung. Thơ ông lắm lối lắm loại. Khi thì ông phân biệt chúng bằng hình thức: hát nói, hát xẩm, tứ tuyệt, bát cú, yết hậu, lục bát, trường đoản, từ khúc, trường thiên… Khi thì bằng nội dung: tập Kiều, thù tiếp, thơ họa… phân biệt lắm thứ như thế vì thật sự Tản Đà không quan tâm đến sự phân biệt. Ông làm thơ như chỉ vì mình. Thơ như nói, nói như chơi mà thấm thía nhân tình. Biên độ thơ Tản Đà rất rộng. Dân ca liền với triết học, cổ điển xen cùng lãng mạn, trào phúng trộn với trữ tình. Nhiều khi câu chữ có cái vẻ ngoài mực thước như của người xưa nhưng cái chất chứa bên trong lại rất Tản Đà, cứ như ông thổi sinh khí vào tượng đất cho nó thành người biết ứa nước mắt.

Cái mới rõ nhất ở Tản Đà là sự hồn nhiên, tự nhiên. Ông làm thơ như hít thở, thấy thế, cảm nghĩ thế thì viết thế. Tản Đà phẫn chí về danh phận nhưng lại đắc ý về tài năng: tài cao phận thấp; chí khí uất, đắc ý về cách sống, cách làm thơ: tuổi chửa bao nhiêu, văn rất hùng. Thơ ông nói chuyện đời ông, nói việc hàng ngày của ông. Ông không mỹ lệ hóa đời thường cũng không thần bí hóa thơ mà cũng chẳng màu mè vờ vĩnh. Đắc ý thì nói đắc ý, buồn thì nói buồn. Dám bộc lộ thật mình trong văn chương ở thời Tản Đà là bạo lắm. Phạm Quỳnh công kích Tản Đà: Người ta, phi người cuồng, không ai dám trần truồng mà đi ngoài phố. Nhà làm sách cũng vậy, không ai đem thân thế của mình mà làm truyện cho người đời xem. Phạm Quỳnh đại diện cho thời cất giấu cá nhân. Cá nhân lẫn vào trong bầy đàn, người ta tả được loài cừu nhưng không ai nhớ mặt một con cừu. Cái mặt cừu người ta tả là mặt của cả loài cừu. Tản Đà dám chiềng cái mặt (của tâm hồn) mình ra giữa cái buổi còn lòa nhòa nhân ảnh ấy nên bị lớp người cũ phản ứng. Nhưng chính chỗ ấy là chỗ Tản Đà đã khai sinh ra chủ nghĩa lãng mạn cho thơ Việt Nam, trước cả phong trào Thơ Mới. Trình độ dân trí hồi ấy đã cho phép Tản Đà bộc lộ chính mình, xã hội đã chấp nhận cho “cái không giống ai” trong phạm trù cá nhân, cá thể tồn tại, điều mà Nguyễn Trãi, Nguyễn Du chưa có. Các cụ xưa mới chỉ bộc lộ được từng nét cá thể khi tỉnh rượu, lúc tàn canh. Các cụ mới có từng yếu tố lãng mạn chứ chưa có chủ nghĩa lãng mạn. Chủ nghĩa lãng mạn lấy cái tôi làm nền tảng, quan tâm, chăm chút cái tôi. Tản Đà lãng mạn trên cái tôi ngông. Ngông là một cách đòi quyền tồn tại cá thể chống mọi khuôn khổ áp đặt. Ngông là lãng mạn trong cõi thực. Tản Đà còn lãng mạn ra ngoài cõi thực. Và đấy lại  là chỗ bộc lộ nhất tinh hoa thơ Tản Đà: Nhớ mộng, Tống biệt, Nói với bóng, Nói với ảnh… Đọc văn xuôi Tản Đà càng thấy rõ phẩm chất lãng mạn của tâm hồn ông.

Hồn mơ mộng, thơ hiu hắt, tình điệu âm u. Cõi u ẩn của lòng người, cao thấp sang hèn gì, đều dám phơi lên mặt giấy, gợi thương, gợi buồn, gợi cảm thông. Bài Tống biệt từ âm điệu đến hình ảnh đều nói được cái dùng dằng của khách trần lưu luyến động tiên, khát thèm mộng ảo: 

Cửa động 
Đầu non 
Đường lối cũ 
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi. 

Bài Nhớ mộng mở đầu như một sự  giác ngộ giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi. Nhưng 
Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng 
Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời. 

Hai câu này còn là cái lãng mạn mực thước của chủ nghĩa cổ điển. Nó là tổng kết chung của cuộc đời dâu bể. Cái chỗ hé ra nỗi niềm Tản Đà đó là ở câu: Những lúc canh gà ba cốc rượu và mộng cũ, mê đường biết hỏi ai. 
Tản Đà có lối vào bài thơ thật tự nhiên:

Ngồi buồn đâm nhớ chị hàng cau
Chiều mát ngồi xem đứa thả câu
Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi
Viết như không mục đích. Viết, xem, nhớ... để khuây khỏa nhu cầu của lòng mình, để có việc mà làm, để khỏi chống chếnh vì nỗi hết thú chơi ở cõi đời:

Trông khắp trần gian hết thú chơi
Thèm trông con hạc nó lên trời.
Tản Đà còn than với chị Hằng Trần thế em nay chán nửa rồi, muốn chuyển hộ khẩu lên đó: 
Cung quế đã ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
Tản Đà có những câu thơ chán đời nhưng trong cốt lõi ông là người ham chơi, ham sống: 

Trời sinh ra bác Tản Đà 
Quê hương thời có cửa nhà 
thời không 
Nửa đời Nam Bắc Tây Đông
Bạn bè sum họp vợ chồng biệt ly.

Mỗi lần nói đến cái chết, dù lúc đang đùa, câu thơ Tản Đà vẫn cứ lặng đi, xa vắng lắm. Nói với bóng: 
Còn ta bóng nỡ nào đi
Ta đi, bóng có ở chi cõi trần
Nói với mùa xuân: 

Ngoài trăm tuổi vắng ta trần thế
Xuân nhớ ta chưa dễ biết đâu tìm

Tản Đà chỉ hiện thực khi  nào cái hiện thực đánh rất đau vào cái mộng, vào tâm trí nhân ái: Năm hào một đứa trẻ lên sáu. Tiền có năm mà trẻ lên tuổi sáu, ấn tượng con số diễn tả sự rẻ rúng của phận người năm lụt lội đói kém. Chi tiết như tân văn, chính xác, cụ thể. Và cõi lòng thì bao nhiêu xa xót. Tản Đà còn hiện thực đến mức dùng thơ làm quảng cáo. Rạch ròi giá cả, khuyến mãi, cổ động, đủ cả. Bài thơ này đọc thấy buồn cười, cười mà ứa nước mắt. Cười vì thấy chức năng thơ (!) Còn ứa nước mắt vì tình thế ông Tản Đà. Ông như con hải âu có sải cánh dài đủ sức làm ông hoàng ở bầu trời nhưng khi phải bước chân lên mặt đất, thì đôi cánh (lãng mạn) kia càng dài ông càng chuệnh choạng *. Tâm hồn Tản Đà không lãng mạn thì không có bài thơ này.

Về hình thức câu thơ, Tản Đà cũng có nhiều cách tân lắm. Bên cạnh thơ lối cũ, ông viết nhiều thơ lối mới. Ông dùng song song cả mới lẫn cũ, không bài xích hay bênh vực thứ nào nên người ta cứ nghĩ phải đến thời Thơ Mới câu thơ Việt Nam mới có cách tân. Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam coi Tản Đà như người bắc cầu cho hai thời đại thi ca Việt Nam là có lý. Nhưng không phải chỉ ở nội dung mà còn ở cả hình thức nghệ thuật. 
...............................................................
(*) Thơ Baudelaire
(Xin xem báo Người Hà Nội từ số 24, ra ngày 21/6/2019)
(0) Bình luận
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
  • Chuyện lạ đêm giao thừa
    Bố của Duy là một nhà sáng chế. Ông rất tài giỏi và thông minh. Duy cũng thông minh nhưng lại rất ham chơi.
  • Nhà phố
    Mắt nhắm mắt mở, Thao còn nằm trên giường đã nghe tiếng cãi vã nhau oang oang. Rõ ràng Thao đóng cửa kính mà âm thanh chát chúa từ dãy nhà phía sau vẫn giội vào rát cả tai. Cái xóm phố toàn nhà bốn tầng, ô tô hạng sang vây kín khoảng đất trống, ấy thế lời tuôn ra chả kém cạnh mấy kẻ côn đồ khi xô xát. Tiếng đồ đạc vung ra sân loảng xoảng.
  • Tiếng hát trong vỏ ốc
    Đêm. Run rủi thế nào hai người phụ nữ ấy lại gặp nhau ngay trên bãi cát. Biển về khuya vắng lặng. Những cặp tình nhân thậm chí cũng đã rời đi vì gió trời bắt đầu trở lạnh. Cô đang giẫm lên dấu chân xiêu vẹo của người phụ nữ đi trước mình. Người đàn bà ấy chậm rãi từng bước, dáng đi có phần nghiêng ngả như một kẻ say.
  • Quà trung thu của ba
    Khoa đang rất vui vì lần đầu tiên được cùng ba tự tay làm đồ chơi Trung thu. Những năm trước, cậu cũng có đèn lồng, đầu lân nhưng đều là quà mẹ mua sẵn vì ba phải đi công tác. Năm nay, ba được nghỉ phép, liền rủ Khoa cùng làm đầu lân bằng tre và giấy báo cũ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt Nam
    “Với tinh thần “Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển”, đề nghị các vị đại biểu dự Đại hội phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, trí tuệ, tập trung nghiên cứu, thảo luận sâu sắc các văn kiện trình Đại hội, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, chất lượng để Đại hội thực sự là dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới” – Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, C
  • Bản giao hưởng mùa hạ của phố phường Hà Nội
    Tháng Năm chạm ngõ, khi cái nắng đầu hạ bắt đầu trải nhẹ trên từng góc phố, cũng là lúc hoa bằng lăng tím bừng nở, nhuộm một sắc mơ màng khắp các con đường Hà Nội. Không rực rỡ như phượng đỏ, không ngào ngạt như hoa sữa tháng 10, bằng lăng mang một vẻ đẹp dịu dàng như chính nhịp sống của thành phố ngàn năm tuổi.
  • Trưng bày “Chuyện thời bình”: Lát cắt chân thực về cuộc sống của người lính sau chiến tranh
    Từ ngày 10/5 đến ngày 24/5/2026 tại Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội (Bảo tàng Hà Nội) diễn ra trưng bày “Chuyện thời bình”. Trưng bày do Bảo tàng Hà Nội, Trung tâm điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội đồng hành với nhóm sinh viên Học viện Báo chí và tuyên truyền đồng tổ chức nhằm lan tỏa những câu chuyện đời thường của các cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh trên cả nước.
  • Những góc nhìn đa chiều về thơ Châu Anh Tuấn
    Sáng 12/5/2026, Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức buổi sinh hoạt chuyên đề với chủ đề “Châu Anh Tuấn và các giải thưởng thơ mới”. Tham dự buổi sinh hoạt có PGS.TS Trần Thị An - Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội; nhà thơ Trần Gia Thái - Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội cùng đông đảo hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội và những người yêu thơ.
  • Hà Nội đổi mới công tác đánh giá cán bộ bằng dữ liệu số và quản trị hiệu suất
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 71-KH/TU ngày 08/5/2026 về đổi mới công tác đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong hệ thống chính trị Thành phố gắn với phương pháp đo lường hiệu suất công việc (OKR/KPI) giai đoạn 2026-2030. Đây được xác định không chỉ là giải pháp kỹ thuật trong chuyển đổi số, mà còn là bước chuyển căn bản về tư duy quản trị, xây dựng văn hóa thực thi công vụ hiện đại, minh bạch, hiệu quả của Thủ đô.
Đừng bỏ lỡ
Văn chương Việt Nam Những nhà thơ thế kỷ XX: Lãng mạn Tản Đà, cái tôi ngông
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO